Linh Đạo Hôn Phối
THEO THÁNH GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II
(Nguồn: www.vietcatholic.net)
Linh Đạo Hôn Phối
Phần 1
LỜI MỞ
THẦN HỌC THÂN XÁC VÀ LINH ĐẠO HÔN PHỐI
1. Linh đạo hôn phối chưa được nhìn nhận.
2. Linh đạo hôn phối có điểm tựa: thần học thân xác theo Đức Gioan Phaolô II
3. Mục đích của bài viết.
4. Trong văn hóa Việt Nam.
HÔN NHÂN TRONG ÁNH SÁNG HÔN LỄ CỦA ĐỨC KITÔ VÀ GIÁO HỘI
1. Phục tùng lẫn nhau
2. Sự tương đồng to lớn.
3. Hôn nhân như là ân sủng của giao ước.
4. Hôn phối như bí tích cơ bản.
5. Hôn phối, nguyên mẫu của các bí tích Giao Ước Mới.
DUYÊN LÀNH VÀ THÁNH THIỆN CỦA CẶP VỢ CHỒNG
1. Vợ chồng sống qua duyên lành
2. Sống hòa hợp thánh thiện
ĐỂ HÔN NHÂN TRỞ NÊN MỘT ƠN GỌI
1. Cho mình hay cho người
2. Khả năng hay ơn gọi
3. Kết hôn hay việc làm
Linh Đạo Hôn Phối Phần 2
HẠNH PHÚC HÔN NHÂN
1. 'Ai sẽ chỉ cho ta thấy hạnh phúc?
2. Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi... (St 2,23).
3. Còn Ta, Ta bảo các ngươi:
4. Nhược bằng họ không tiết dục
5. Cũng vậy,
6. Người đã làm ra tự một người
LÀM SAO ĐỂ VỢ CHỒNG SỐNG HẠNH PHÚC?
1. Nhân vô thập toàn
2. Sự thứ tha, con đường hiến thân.
3. Thứ tha và kết hiệp
TRƯỞNG THÀNH CỦA TÌNH YÊU
1. Đêm tối của cảm xúc
2. Đêm tối của lý trí
3. Cho tới khi cái chết chia cách chúng ta
NIỀM VUI TRAO BAN
1. Vai trò của thân xác trong cuộc sống lứa đôi.
2. Niềm vui hiệp thông.
3. Niềm vui vẫn tồn tại.
Linh Đạo Hôn Phối Phần 3
TÌNH YÊU VỢ CHỒNG: MỘT BÀI PHỤNG CA
1. Tu là cõi phúc, tình là giây oan
2. Yêu là cõi phúc, đền nghì tình Ai
3. Yêu người yêu Chúa, phụng ca một bài
LỜI KẾT
THÁNH GIÁ VÀ KHỔ CỰC CỦA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH
1. Tông huấn ‘Cộng Đồng Gia Đình
2. Lời khuyên của đức Gioan Phaolô II.
3. Thánh giá trong đời sống vợ chồng.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM HÔN NHÂN
1. Hai thời điểm quan trọng: 'tiệc cưới Cana' và 'Bữa tiệc ly'.
2. Sự mật thiết vợ chồng và tính sâu kín Thánh Thể
3. Tiệc cưới Con Chiên
TÓM LƯỢC THẦN HỌC THÂN XÁC THEO ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
1. Chương trình của Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ về sự phối hợp của người nam và người nữ (Mt 19,3-8).
2. Trái tim con người đã bị thương từ tội nguyên tổ (Mt 5,27-28)
3. Hôn nhân là như sự công bố và chuẩn bị ơn phục sinh (Mt 22,23-30).
LỜI MỞ
Cuốn sách mang tựa đề ‘Linh Đạo Hôn Phối theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II’ ở đây có nghĩa là cuốn sách trình bày ‘một số khía cạnh về đời sống tâm linh của các đôi bạn Công Giáo theo giáo huấn của Ngài.
Chúng ta biết lúc còn tại thế Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban nhiều văn kiện liên quan đến đời sống gia đình: Tông huấn ‘Cộng Đồng Gia Đình’ (Familiaris Consortio – 1981), ‘Thơ gửi các Gia Đình’ (Lettre aux Familles – 1994)… Ngài rất quan tâm đến đời sống thánh thiện, đạo đức của đôi bạn, của gia đình mà chính công đồng Vatican II đã cổ động, đã kêu ‘hôn nhân là một ơn gọi nên thánh’:
1. ‘Nhờ sức riêng của bí tích hôn phối, các đôi vợ chồng Kitô giáo biểu hiện và tham dự mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (xEp 5,32). Họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái nên thánh. Cũng vì thế, họ được những ơn riêng cho bậc sống của mình trong Dân Chúa (x Cr7,7) (LG 11,2).
2. ‘Vợ chồng Kitô giáo được củng cố và được thánh hiến bằng một bí tích riêng để được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá thuộc bậc sống của họ. Nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình của họ. Nhờ đó, tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến và càng ngày họ càng tiến gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau. Bởi đó, họ cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa’ (GS 48,2).
3. ‘Ơn gọi nên thánh chung của mọi người cũng nhằm đến đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu. Đối với họ, ơn gọi này được nêu rõ bởi sự cử hành bí tích Hôn Phối và được phô diễn cách cụ thể trong đời sống hôn nhân và gia đình (xLG 41). Chính trong cuộc sống ấy mà ân sủng được phát sinh và ta nhận thấy sự đòi hỏi phải có một linh đạo hôn phối và gia đình đích thực và sâu xa’ (FC 56).
Nhưng linh đạo Hôn Phối theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà chúng tôi trình bày hôm nay đề cao những khía cạnh mới mẻ và căn bản từ Thánh Kinh, mà chính ngài gọi là ‘thần học thân xác’ (Théologie du corps). Đây là một công trình lớn lao mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nghiền gẫm lâu năm trước và còn dành năm năm đầu triều đại giáo hoàng (1979-1984) để trình bày cho giáo dân trong các buổi triều yết chung ngày thứ tư. Tất cả là 129 bài với 800 trang viết (1).
Hiện nay nhiều nhà thần học và nhiều nhà ‘luân lý gia đình’ đang khai triển và hệ thống hoá những giáo huấn của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Đức Hồng Y Angelo Scola, lúc còn làm viện trưởng đại học Latran (Roma) đã nhận định: ‘Đây là huấn giáo tuyệt tác của Đức Gioan Phaolô II’ (Magistère génial de Jean-Paul) (2). Cha George Weilgel viết: ‘Đây là quả bom nổ chậm của thần học’ (bombe à retardement théologique). Quả vậy, thần học về thân xác của Đức Gioan Phaolô II có thể được coi như một khúc quặt, không chỉ đối với thần học Công Giáo mà còn đối với cả tư tưởng hiện đại’ (3). Mới đây, đức Hồng Y Philippe Barbarin cũng phát biểu: ‘Đức Gioan Phaolô II đã cống hiến cho Giáo Hội và thế giới một giáo huấn rất phong phú về thân xác và về hôn nhân trong 129 buổi triều yết chung ngày thứ tư’ (3).
Dựa vào ý tưởng của các ngài, đặc biệt của giáo sư Yves Semen trong cuốn ‘La Spiritualité conjugale selon Jean Paul II’ (Linh đạo của vợ chồng) (4) chúng tôi soạn cuốn ‘LINH ĐẠO HÔN PHỐI’ này vừa để:
- Mừng ngày Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được tuyên phong Hiển Thánh, 27.04.2014.
- Đánh dấu ‘Năm Thánh Hóa Gia Đình’, hướng đi mục vụ của Giáo Hội Hoàn Vũ và Giáo Hội Việt Nam (2014).
- Mừng 20 năm sinh hoạt của Ban Mục Vụ Gia Đình (1995-2015).
Xin thánh Giáo Hoàng Gioan Phalô II ban phúc lành cho những người góp phần thực hiện công việc bé nhỏ này, cũng như cho quý đọc giả thân thương. Tất cả để vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các gia đình.
Lễ Phục Sinh, lễ thân xác nhân loại
được thăng hoa nhờ sự sống lại của Chúa Kitô.
Paris 20. 04. 2014
Thay mặt cho Ban Tu Thư
Lm Giuse Mai Đức Vinh
————–
(1) Có thể đọc tác phẩm đầy đủ về ‘Thần học thân xác’ của Đức Gioan Phaolô II của ông Yves Semen ‘La sexualité selon Jean-Paul II’, Presses de la Renaissance, 2004.
(2) xCarlo Caffara, ‘Identidad y diferencia. La relacionbombre y mujer’, Madrid, nxb. Encuentro, 1989 tr.34
(3) George Weilgel, ‘Jean Paul II, témoin de l’Espérance’ JC. Lattès, 1999, p. 427
(4) Yves Semen, ‘La Spiritualité conjugale selon Jean-Paul II, Presses de la Renaissance, 2010, p.11.
Ban Tu Thư Giáo Xứ VN Pa
LỜI MỞ
Cuốn sách mang tựa đề ‘Linh Đạo Hôn Phối theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II’ ở đây có nghĩa là cuốn sách trình bày ‘một số khía cạnh về đời sống tâm linh của các đôi bạn Công Giáo theo giáo huấn của Ngài.
Chúng ta biết lúc còn tại thế Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã ban nhiều văn kiện liên quan đến đời sống gia đình: Tông huấn ‘Cộng Đồng Gia Đình’ (Familiaris Consortio – 1981), ‘Thơ gửi các Gia Đình’ (Lettre aux Familles – 1994)… Ngài rất quan tâm đến đời sống thánh thiện, đạo đức của đôi bạn, của gia đình mà chính công đồng Vatican II đã cổ động, đã kêu ‘hôn nhân là một ơn gọi nên thánh’:
1. ‘Nhờ sức riêng của bí tích hôn phối, các đôi vợ chồng Kitô giáo biểu hiện và tham dự mầu nhiệm hiệp nhất và tình yêu phong phú giữa Chúa Kitô và Giáo Hội (xEp 5,32). Họ giúp nhau nên thánh trong đời sống hôn nhân, trong việc đón nhận và giáo dục con cái nên thánh. Cũng vì thế, họ được những ơn riêng cho bậc sống của mình trong Dân Chúa (x Cr7,7) (LG 11,2).
2. ‘Vợ chồng Kitô giáo được củng cố và được thánh hiến bằng một bí tích riêng để được lãnh nhận các bổn phận và phẩm giá thuộc bậc sống của họ. Nhờ sức mạnh của bí tích này, họ được thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình của họ. Nhờ đó, tất cả đời sống của họ được thấm nhuần đức tin, cậy, mến và càng ngày họ càng tiến gần hơn tới sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau. Bởi đó, họ cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa’ (GS 48,2).
3. ‘Ơn gọi nên thánh chung của mọi người cũng nhằm đến đôi bạn và cha mẹ Kitô hữu. Đối với họ, ơn gọi này được nêu rõ bởi sự cử hành bí tích Hôn Phối và được phô diễn cách cụ thể trong đời sống hôn nhân và gia đình (xLG 41). Chính trong cuộc sống ấy mà ân sủng được phát sinh và ta nhận thấy sự đòi hỏi phải có một linh đạo hôn phối và gia đình đích thực và sâu xa’ (FC 56).
Nhưng linh đạo Hôn Phối theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II mà chúng tôi trình bày hôm nay đề cao những khía cạnh mới mẻ và căn bản từ Thánh Kinh, mà chính ngài gọi là ‘thần học thân xác’ (Théologie du corps). Đây là một công trình lớn lao mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nghiền gẫm lâu năm trước và còn dành năm năm đầu triều đại giáo hoàng (1979-1984) để trình bày cho giáo dân trong các buổi triều yết chung ngày thứ tư. Tất cả là 129 bài với 800 trang viết (1).
Hiện nay nhiều nhà thần học và nhiều nhà ‘luân lý gia đình’ đang khai triển và hệ thống hoá những giáo huấn của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Đức Hồng Y Angelo Scola, lúc còn làm viện trưởng đại học Latran (Roma) đã nhận định: ‘Đây là huấn giáo tuyệt tác của Đức Gioan Phaolô II’ (Magistère génial de Jean-Paul) (2). Cha George Weilgel viết: ‘Đây là quả bom nổ chậm của thần học’ (bombe à retardement théologique). Quả vậy, thần học về thân xác của Đức Gioan Phaolô II có thể được coi như một khúc quặt, không chỉ đối với thần học Công Giáo mà còn đối với cả tư tưởng hiện đại’ (3). Mới đây, đức Hồng Y Philippe Barbarin cũng phát biểu: ‘Đức Gioan Phaolô II đã cống hiến cho Giáo Hội và thế giới một giáo huấn rất phong phú về thân xác và về hôn nhân trong 129 buổi triều yết chung ngày thứ tư’ (3).
Dựa vào ý tưởng của các ngài, đặc biệt của giáo sư Yves Semen trong cuốn ‘La Spiritualité conjugale selon Jean Paul II’ (Linh đạo của vợ chồng) (4) chúng tôi soạn cuốn ‘LINH ĐẠO HÔN PHỐI’ này vừa để:
- Mừng ngày Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II được tuyên phong Hiển Thánh, 27.04.2014.
- Đánh dấu ‘Năm Thánh Hóa Gia Đình’, hướng đi mục vụ của Giáo Hội Hoàn Vũ và Giáo Hội Việt Nam (2014).
- Mừng 20 năm sinh hoạt của Ban Mục Vụ Gia Đình (1995-2015).
Xin thánh Giáo Hoàng Gioan Phalô II ban phúc lành cho những người góp phần thực hiện công việc bé nhỏ này, cũng như cho quý đọc giả thân thương. Tất cả để vinh danh Thiên Chúa và thánh hóa các gia đình.
Lễ Phục Sinh, lễ thân xác nhân loại
được thăng hoa nhờ sự sống lại của Chúa Kitô.
Paris 20. 04. 2014
Thay mặt cho Ban Tu Thư
Lm Giuse Mai Đức Vinh
————–
(1) Có thể đọc tác phẩm đầy đủ về ‘Thần học thân xác’ của Đức Gioan Phaolô II của ông Yves Semen ‘La sexualité selon Jean-Paul II’, Presses de la Renaissance, 2004.
(2) xCarlo Caffara, ‘Identidad y diferencia. La relacionbombre y mujer’, Madrid, nxb. Encuentro, 1989 tr.34
(3) George Weilgel, ‘Jean Paul II, témoin de l’Espérance’ JC. Lattès, 1999, p. 427
(4) Yves Semen, ‘La Spiritualité conjugale selon Jean-Paul II, Presses de la Renaissance, 2010, p.11.
Ban Tu Thư Giáo Xứ VN Paris
Nguồn: Vietcatholic New
THẦN HỌC THÂN XÁC VÀ LINH ĐẠO HÔN PHỐI
của Lm Mai Đức Vinh
Trong buổi triều yết ngày 02.04.1980, Đức Gioan Phaolô II đã tuyên bố: "Những ai đang tìm trong hôn nhân sự toàn mãn về ơn gọi nhân bản và kitô của họ, đều được mời gọi đi từ thần học thân xác mà nguồn gốc nằm trong sách Sáng Thế, đến việc kiến tạo chính thể chất đời sống và phong cách của họ".
1. Linh đạo hôn phối chưa được nhìn nhận.
Công đồng Vatican II có lý khi nhấn mạnh rằng: Giáo Hội không chỉ là Giáo Hội của giáo sĩ, linh mục và giám mục, nhưng là của toàn thể những người đã chịu phép rửa tội. Chân lý này đã được khẳng định một cách long trọng và quảng diễn bởi đức Gioan-Phaolô II trong tông huấn ‘Người tín hữu giáo dân’ (Christi fideles laici). Vậy giữa những người đã chịu phép rửa tội, giáo dân là thành phần rất đông đảo và đa số họ là những người lập gia đình, là đa số vững chắc của dân Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu linh đạo của linh mục và tu sĩ thường được trình bày một cách dồi dào và phong phú, thì cho đến nay, linh đạo của khối đa số này còn quá nghèo nàn và nông cạn. Vì thế, một cách chung, chính phần dân Kitô hữu đông nhất, tự thấy mình thiếu một linh đạo thích ứng chuyên biệt cho bậc sống và ơn gọi của họ. Phải chăng đó là một mâu thuẫn lớn lao, hầu như một gương xấu? Phải chăng vì thế, những người sống gia đình, mỗi khi họ tìm kiếm một linh đạo, họ bị ép buộc nuôi mình bằng linh đạo của những người độc thân?
Ngay trước khi khai mạc công đồng Vatican II, năm 1962, cha Caffarel muốn sáng lập một linh đạo hôn phối cho các nhóm Notre-Dame. Trong số báo ‘Nhẫn Vàng’ (Anneau d’Or) năm 1962, khi viết về đề tài ‘Hôn nhân và Công Đồng’, cha đã không ngần ngại hạ bút: ‘Làm sao Giáo Hội không thể nghĩ đến các giáo dân đang sống bậc gia đình, làm sao Giáo Hội lại nỡ lòng coi họ như những người độc thân, sống cô đơn lẻ bóng? Rồi, chính cha tự vấn về các gia đình Kitô hữu theo cách thế mà hôn nhân Kitô giáo đang được hiểu và sống trong Giáo Hội Công Giáo ngày nay’ [1]. Từ đó cho tới nay là nửa thế kỷ, vấn đề ‘linh đạo hôn phối’ đã được quan tâm và thăng tiến đến đâu? Người ta đã biết đi về nguồn để khai mở một linh đạo hôn phối đặc thù chưa?
Xem ra Giáo Hội đã cực nhọc trong nhiều thế kỷ để nhìn nhận trong hôn nhân có một ơn gọi chính thực Kitô giáo với ý nghĩa tròn đầy, khả dĩ hướng dẫn những người muốn nên thánh trong bậc giáo dân. Có lẽ đó là sự khó khăn mà Giáo Hội đã gặp phải khi ngại ngùng chấp nhận ý nghĩa đích thực về dục tính nhân bản. Người ta cũng phải nhìn nhận với Xavier Lacroix rằng: Kitô giáo là tôn giáo của thân xác, vì được xây trên sự nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa – thì không thể coi khinh chê thân xác. Coi khinh thân xác là từ chối chính mình, ‘Tất cả đã xẩy ra dường như Kitô giáo đã thích ứng với thân xác đau khổ, thân xác lao động, thân xác hiến tế cách thoải mái hơn thân xác thụ hưởng khoái lạc’ [2]. Về điểm này, đức Gioan-Phaolô II, khi nói về thần học thân xác, không ngần ngại tuyên bố rõ ràng: "Đối với Kitô giáo, thân xác và dục tính vẫn còn mang những giá trị thường rất ít được coi trọng" [3].
2. Linh đạo hôn phối có điểm tựa: thần học thân xác theo Đức Gioan Phaolô II
Người ta đã phải đối xử công bằng với cha Caffarel và các Nhóm Notre-Dame, vì đã can đảm và cả gan mở ra những con đường hoành tráng và tràn đầy hy vọng. Tuy nhiên cho đến nay, người ta vẫn chưa đưa ra cho linh đạo hôn phối, cái nền tảng thần học có khả năng quảng diễn linh đạo ấy, mà còn để nó nằm yên trong phạm vi trực giác thôi. Thần học thân xác của đức Gioan-Phaolô II bù đắp lại sự thiếu sót to lớn đó. Từ nay, linh đạo hôn phối có điểm tựa thần học vững chắc, nhờ đó, có thể được kiến tạo và phát triển. Chính đây là một biến cố thật đáng kể. Nhưng không phải tất cả những người có trách nhiệm trong Giáo Hội đã biết quan tâm đến mọi tầm mức của nó. Sự lên ngôi của thần học thân xác này tạo nên một nền tảng thần học đáng kể: Đó là một giáo huấn lớn lao nhất mà trong lịch sử Giáo Hội chưa có một vị giáo hoàng nào đề cập tới cùng một chủ đề, với trên một trăm trang. Tuy nhiên đã 25 năm sau khi đức Gioan Phaolô II hoàn thành giáo huấn qua những buổi triều yết chung ngày thứ tư, đa số các mục tử trong Giáo Hội và phần lớn giáo dân có đôi bạn vẫn còn coi nhẹ linh đạo hôn phối. Điều đó đáng suy nghĩ.
Với thần học thân xác của đức Gioan Phaolô II, hôn phối từ nay được thiết lập và nhìn nhận, không như một ơn gọi bậc nhì, nhưng như một trong hai con đường khả dĩ giúp đôi bạn nên trọn lành bằng chính sự hiến thân. Hiến chế mục vụ ‘Niềm vui và Hy vọng’ (Gaudium et Spes) của công đồng Vatican II về Giáo Hội trong thế giới hôm nay, khẳng định mạnh mẽ trong một định thức mà sau này đức Gioan-Phaolô II đã xử dụng rất nhiều, rằng: "Con người là thụ tạo duy nhất trên mặt đất mà Thiên Chúa đã muốn dựng nên vì chính họ, chỉ có thể gặp lại chính bản thân nhờ thành thật hiến thân" [4]. Việc hoàn tất của công trình hiến thân này mà trong đó con người được mời gọi gặp lại chính mình, có thể thực hiện được nhờ việc thánh hiến trong đời sống ‘độc thân vì nước trời’ hay nhờ ‘việc tận hiến trong hôn nhân’. Đức Gioan Phaolô II nói: "Chắc chắn, bản tính của tình yêu trong đời sống vợ chồng hay trong đời sống độc thân tận hiến mang đặc tính hôn ước, nghĩa là nó thể hiện nhờ hồng ân tận hiến hoàn toàn. Tình yêu này hay tình yêu khác đều có mục đích diễn tả ý nghĩa hôn ước của thân xác đã được ghi ấn ngay từ đầu trong cơ cấu riêng của chính người đàn ông và người đàn bà" [5].
3. Mục đích của bài viết.
Hai con đường hôn phối và trinh khiết, đều có thể dẫn đến sự thánh thiện, cho dầu hai con đường đó không hoàn toàn nhất trí trong việc trả lời cho một tiếng gọi âm vang tự đáy lòng của con người. Nếu Giáo Hội đã vinh danh trong nhiều thế kỷ, là điều phải lẽ, con đường hiến thân trong đời sống tu sĩ, thì có lẽ bây giờ đã đến lúc Giáo Hội phát hiện những công phúc và những giá trị to lớn của con đường khác, con đường hiến thân trong đời sống hôn nhân. Ngay từ năm 1931, trong thông điệp ‘Hôn nhân khiết tịnh’ (Casti connubì), đức Piô XI đã nói rằng: ‘Các đôi bạn ‘là như đã được thánh hiến bởi một bí tích thật cao cả’ [6]. Như vậy, Đức Giáo Hoàng gián tiếp nhìn nhận: ‘những người sống đôi bạn có thể tựa trên một linh đạo tương ứng với ơn gọi đặc thù của họ’. Như một lời ngôn sứ, cha Caffarel đã phát biểu trong các buổi hội chuẩn bị công đồng, rằng: "Không thể coi là đủ việc nhắc lại cho những Kitô hữu sống đôi bạn rằng: ‘Hôn phối không phải là một bậc sống bất toàn hảo’, nhưng còn phải trình bày cho họ một giáo thuyết khổ hạnh và huyền nhiệm, một ‘tu đức’ được soạn thảo không phải từ kinh nghiệm đời sống đan tu, nhưng từ kinh nghiệm của bậc sống đôi bạn, từ những đòi hỏi, những khó khăn, những ân sủng của bậc sống vợ chồng… Dĩ nhiên tu đức ấy cần có sự tham gia ý kiến của những người sống gia đình" [7]. Cũng cần nói lên rằng: các đôi bạn Kitô hữu nêu bật nhiều hình ảnh gương mẫu của các thánh, và cụ thể là các ngài đã nên thánh bằng đức trọn lành của đời sống hôn nhân. Cũng chính đức Gioan-Phaolô II đã kiến tạo một công trình đổi mới khi ký sắc lệnh, năm 2001, phong chân phước cho ông Luigi và bà Maria Beltrame-Quattrocchi, là đôi vợ chồng Kitô hữu được tuyên phong chân phước đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, nhân danh sự thánh thiện của đời sống vợ chồng, và cho mừng lễ vào đúng ngày kỷ niệm hôn phối của các ngài. Điều rõ ràng là từ nay người ta có thể nên thánh ngay trong đời sống hôn nhân. Điều mà xưa nay ít ai nghĩ tới.
Cũng như những bài viết khác trong tập sách và như chúng tôi trình bày ở trên, mục đích của bài viết này là nêu bật một số khía cạnh của linh đạo hôn nhân, dựa theo thần học thân xác mà đức Gioan Phaolô II đã mở ra trong Giáo Hội của thế kỷ XXI chứ không phải cho thế kỷ XX. Rồi trong suốt thời gian cai quản Giáo Hội, đặc biệt trong các buổi triều yết chung ngày thứ tư mỗi tuần, Đức Giáo Hoàng đã nhắc đến những yếu tố giáo lý cơ bản của thần học thân xác. Dĩ nhiên không dễ dàng công thức hóa những khái niệm chắc chắn về thần học thân xác. Có lẽ vì lý do đó, đức Gioan Phaolô II đã không công bố một lúc ý hướng của ngài khi ngài khởi sự phổ biến giáo huấn này kể từ tháng 9.1979.
Dầu vậy, người ta có thể nhất trí với sự suy nghĩ của ông George Weigel là người đã đánh giá thần học thân xác của đức Gioan-Phaolô II như ‘một quả bom thần học nổ chậm, và nó có thể nổ với nhiều tiếng vang ngoạn mục trong lịch sử tam thiên niên của Giáo Hội’ [8]. Có lẽ sự suy đoán của ông George Weigel hàm súc một khía cạnh tiên tri nào đó, khi ông viết những dòng này vào năm 1999, gần 5 năm trước ngày đức Gioan Phaolô II tạ thế. Lúc đó ông còn viết: "Có thể xẩy ra là thần học thân xác của đức Gioan Phaolô II, nguồn phát sinh những tranh luận, chỉ được quan tâm đến khi nào chính ngài đi ra khỏi kịch trường… Khi điều đó xẩy ra, có lẽ trong thế kỷ XXI, thần học thân xác có thể được nhìn nhận như một khúc quặt, không nguyện trong thần học Công Giáo, nhưng cả trong lịch sử của tư tưởng tân thời" [9]. Năm 2009, tức 20 năm sinh nhật ‘việc thành hình và phổ biến giáo huấn này của đức Gioan Phaolô II, thì phải chăng đó chính là công trình khai mở một linh đạo hôn phối được xây trên nền tảng ‘ơn cứu độ thân xác và đặc tính bí tích của hôn nhân’. Dưới tiêu đề này, chính đức Gioan Phaolô II đã đề nghị hệ thống hóa lại những giáo huấn của ngài về thần học thân xác? [10].
Phần chúng tôi, chúng tôi chỉ dám bày tỏ vắn gọn món quà mà đức Gioan Phaolô II đã tặng cho Giáo Hội thế kỷ XXI qua việc vinh danh ‘Ơn gọi của thân xác con người’. Ngài nói: "Thân xác và chỉ mình nó có khả năng làm cho chúng ta nom thấy cái mà xưa nay chúng ta không nom thấy: thiêng liêng và thần linh. Thân xác đã được dựng nên để thuyên chuyển vào thực tại hữu hình của thế giới, mầu nhiệm dấu ẩn trong Thiên Chúa tự đời đời và trở nên dấu hữu hình của mầu nhiệm ấy" [11]. Ơn gọi của thân xác, các đôi vợ chồng Kitô hữu, hơn các phần tử khác trong Giáo Hội, có sứ mệnh làm những người mạc khải và tiên tri về ơn gọi của thân xác. Đó là sứ mệnh thật cao đẹp và thật khẩn trương trong thế giới không hiểu đủ thân xác con người và thường lại nhận định nó như là vật liệu đơn giản có thể xử dụng được. Thế thôi [12].
4. Trong văn hóa Việt Nam.
Trong cuốn ‘Văn Hóa Gia Đình’ do Giáo Xứ Việt Nam-Paris xuất bản, chúng tôi đã mạo muội trình bày về ‘Linh Đạo Gia Đình’ [13] với ‘hàm ý chứng minh rằng Đức tin Công Giáo đã hội nhập và thăng tiến đặc biệt Văn Hóa Gia Đình Việt Nam’, thì hôm nay ở đây chúng tôi cũng có thể nói lên rằng:
- Khi tôn trọng đức chung thuỷ vợ chồng, người Việt Nam đã hàm ý đề cao giá trị của thân xác trong việc chăn gối, coi việc vợ chồng ăn ở với nhau như một hồng ân Trời ban, để vợ chồng gây hạnh phúc cho nhau, và cha mẹ xây dựng gia đình yêu thương giữa con cái, cháu chắt, đến ‘tứ đại đồng đường’… Đây chúng ta hãy nghe những lời ca dao tục ngữ diễn tả những ý tưởng cao đẹp đó.
- Nhờ Đức Tin vào Thiên Chúa Sáng Tạo, đôi vợ chồng Công Giáo Việt Nam còn đi xa hơn với mục đích ẩn tàng là thăng hoa và Tin Mừng Hóa văn hóa và luân lý gia đình Việt Nam. Tỷ như mấy lời mở đầu tập ‘Hiếu Tự Ca’:
Mấy lời hiếu tự nói qua,
Để cho ai nấy trẻ già nhớ ơn.
Làm người sống ở thế gian,
Ai không đội đức cao sang nặng dày;
Nói sao cho hết cho rồi,
Biết bao khí huyết tài bồi cho ta.
Phần hồn thì Chúa sinh ra,
Xác này Chúa phó mẹ cha sinh thành.
Phụ tinh mẫu huyết đúc hình,
Cho ta toàn vẹn sinh ra làm người…
Thể hình ngày tháng nhẩn nha,
Đúc dần từng tí cho ta thân này… [14]
Khóa Chuẩn Bị Hôn Phối đầu tiên (1995)
Khóa Chuẩn Bị Hôn Phối thứ 39 (2014)
--------------------------------
[1] L’Anneau d’Or s.105-106, nxb Feu Nouveau, 1962, tr.179-180.
[2] Xavier Lacroix, ‘L’Avenir c’est L’autre, nxb Cerf, 2000, tr.145
[3] Cathéchèse du 22.10.1980, s.3
[4] Vatican II, Constiturion Gaudium et Spes, s. 24,52.
[5] (Cathéchèse du 14.4.1982, s.4.
[6] Piô XI, tđ ‘Casti connubì’, 1,3
[7] L’Anneau d’Or, s.105-106 sđc, tr. 186
[8] George Weigel, ‘Jean Paul II, Témoin de l’espérance, JC Lattes, 1999, p. 427
[9] Nt.
[10] Catéchèse du 28.11.1984, s.1. - Có thể đọc các bản văn chính thức của những cuộc triều yết của đức Gioan Phaolô II nói về ‘thần học thân xác’ (la théologie du corps) trong bộ ‘Homme et Femme, il les créa, Une spiritualité du corps’, nxb Cerf, Paris, 2004.
[11] La Catéchèse du 20. 02. 1980, s.4.
[12] Bài viết này, chúng tôi dựa theo bài ‘Pour une spiritualité propre aux personnes mariées’ của Yves Semen, trong cuốn La Spiritualité Conjugale selon Jean-Paul II, éd. Presses de la Renaissance, Paris 2010, p. 15-24.
[13] Mai Đức Vinh, ‘Linh đạo gia đình’ trong ‘Văn Hóa Gia Đình’ 2006, tr.511-550.
[14] Lm Trần Lục, ‘Hiếu Tự Ca’, Giáo Xứ VN/P in lại, 1986.
HÔN NHÂN TRONG ÁNH SÁNG HÔN LỄ CỦA ĐỨC KITÔ VÀ GIÁO HỘI
của Lm Mai Đức Vinh
'Vì lòng kính mến Đức Kitô, anh chị em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh. Chính Người là Đấng cứu chuộc của Hội Thánh, thân thể của Người'. (Ep 5,21-23)
Trong buổi triều yết ngày 28.07.1982, đức Gioan Phaolô II đã quảng diễn một đoạn thư của Thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Êphêsô nói về ‘đời sống vợ chồng’. Bản văn ấy như sau:
"Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh chị em hãy tùng phục lẫn nhau. Các bà vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa Giêsu, vì chồng là đầu của vợ, cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Ngài là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Ngài. Và như Hội Thánh tùng phục Chúa Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. Như vậy Ngài thánh hóa và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và bằng lời hằng sống. Để dưới mắt Người có một Hội Thánh xinh đẹp, lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ, trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Ngài. Sách Thánh có lời chép rằng: chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ và gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng" (Ep 5,21-33). Đọc xong, Đức Gioan Phaolô diễn giảng những câu then chốt.
1. Phục tùng lẫn nhau
Phải hiểu làm sao về vấn đề phục tùng, 'Hỡi các bà vợ, các bà phải phục tùng chồng các bà cho phải phép'? Đức Gioan Phaolô II giải thích thật rõ ràng và thẳng thắn. Lần đầu tiên trong lịch sử thần học hôn phối, chính ngài đã dùng diễn từ 'phục tùng tương hỗ hay phục tùng lẫn nhau'. Ngài nói: "Khi viết 'vợ phải phục tùng chồng', thánh Phaolô không chủ trương rằng hiến ước giữa ngôi vị (pacte interpersonnel) dành riêng cho hôn nhân là một hiến ước thống trị của đàn ông trên đàn bà. Ngài phát biểu một quan niệm ngược lại, nghĩa là người đàn bà có thể và phải tìm thấy trong những tương quan với Chúa Kitô Đấng là bạn đời duy nhất cho người này và cho người khác. Theo giáo thuyết của bức thư, thì hôn phối loại trừ yếu tố 'chồng chúa vợ tôi, mọi quyết định đều do chồng' mà hiến ước ngày xưa đã đè nặng và ngày nay đôi khi vẫn còn đè nặng trên cơ chế của hôn nhân. Đúng thực, chồng và vợ phải phục tùng lẫn nhau, bổ túc cho nhau. Nguồn suối của sự phục tùng tương hỗ này là lòng đạo đức (pietas) Kitô giáo, là ơn đạo đức. Tình yêu biểu lộ lòng đạo đức" [15].
Yếu tố nào cho phép đức Gioan Phaolô II quả quyết sự phục tùng giữa người chồng và người vợ phải là sự phục tùng tương hỗ, trong khi thư của thánh Phaolô không nói rõ như vậy? – Cách đơn giản, chính sự đòi hỏi tình yêu phải chân thật mà thánh tông đồ đã đưa ra một định thức đòi buộc người chồng 'Hỡi các ông chồng, hãy yêu vợ mình'. Nếu người cHồng Yêu vợ thực tình, ông không thể chủ trương chỉ một bên phải phục tùng. Bởi lẽ tình yêu thành thật loại trừ mọi hình thức thống trị. Đức Gioan Phaolô nói: 'Tình yêu loại bỏ mọi hình thức phục tùng khiến người vợ trở thành tôi tớ hay nô lệ của người chồng, trở thành đối tượng phục tùng đơn phương. Tình yêu cũng đòi hỏi người chồng phục tùng vợ mình, như chính chồng và vợ phải phục tùng Chúa. Cộng đoàn hay đơn vị mà họ phải tạo dựng vì lý do hôn nhân phải được thực hiện trong một hồng ân tương hỗ, chính là sự phục tùng tương hỗ' [16]. Một sự phục tùng trong tình yêu không phải là một sự phục tùng thống trị, nhưng là sự phục tùng hiến dâng tương hỗ. Đó mới là ý nghĩa xác thực của sự phục tùng mà thánh Phaolô mời gọi vợ chồng.
2. Sự tương đồng to lớn.
Bản văn trích từ thư thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Êphêsô ở trên (Ep 5,21-33) nêu bật sự tương đồng to lớn giữa hôn lễ người trần thế và hôn lễ của Đức Kitô và của Giáo Hội. Đó chính là điều đức Gioan Phaolô II chủ tâm nói đến ở đây và ngài nhấn mạnh về một sự tương đồng. Ngài không nói bằng một ẩn dụ, nhưng với một so sánh đơn sơ, một hình ảnh diễn tả mối tương quan vợ chồng bày tỏ ra bên ngoài qua những từ ngữ sống động. Ngài nói về một tương đồng, tức là về một đối ứng tương tự giữa vợ chồng. Điều đó có nghĩa là, khi lá thư gửi cho người Ephêsô nói về hôn lễ người trần thế qui chiếu về hôn lễ của Đức Kitô và của Hội Thánh, thì đó không chỉ nói về một hình ảnh đơn thuần có tính cách sư phạm để giúp chúng ta hiểu về phẩm chức của hôn phối Kitô giáo, nhưng còn nói nhiều hơn nữa về sự tương đồng chính yếu giữa những tương quan vợ chồng trong hôn nhân và những tương quan của Đức Kitô và của Giáo Hội: tình yêu hiến dâng. Nói một cách khác, chỉ những hôn lễ thể hiện toàn phần và toàn mãn cái cốt lõi của hôn phối 'là tình yêu hiến dâng', mới là hôn lễ của Đức Kitô và của Hội Thánh. Vậy, hôn lễ giữa người trần thế được kết ước đúng theo sự thật thì có sứ mệnh phải nên giống, hay ít ra có chí hướng nên giống, hôn lễ của Đức Kitô và của Hội Thánh.
Có ba câu chủ chốt trong sự tương đồng này. Câu thứ nhất: "Chớ gì người vợ tùng phục chồng như tùng phục Chúa". Câu thứ hai vừa cắt nghĩa và vừa biện minh cho câu thứ nhất: "Người chồng là đầu của người vợ như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh", nghĩa là bằng cùng một cách: như Giáo Hội phục tùng Đức Kitô thì các bà phải phục tùng chồng của các bà. Câu thứ ba là: "Còn các ông chồng, các ông phải yêu thương vợ như Đức Kitô yêu Hội Thánh và phó mình vì Hội Thánh". Như vậy, hôn lễ người trần thế được thiết lập tương quan với quà tặng hôn lễ của Đức Kitô cho Hội Thánh: Đức Kitô-Hôn phu hiến thân cho Giáo Hội-Hôn thê, nghĩa là cho mỗi người trong chúng ta. Vì chúng ta là phần tử của Hội Thánh, là chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô, nên chúng ta được mời gọi tiếp nhận vị Hôn Phu đã hiến mình cho Hội Thánh tức là cho chúng ta. Sống đời sống hôn nhân, chúng ta thông hiểu, thưởng thức, chiêm ngưỡng những mối liên hệ của Đức Kitô và của Hội Thánh, đồng thời chúng ta phải quyết tâm đạt tới sự trọn hảo của tình yêu hiến dâng vốn có trong hôn lễ giữa Đức Kitô-Hôn phu và Hội Thánh-Hôn thê. Đó chính là điều mà đức Gioan Phaolô II tha thiết mời gọi: "Những liên hệ hỗ tương giữa đôi bạn, chồng và vợ, các Kitô hữu phải học hỏi và sống theo hình ảnh những liên hệ giữa Đức Kitô và Hội Thánh" [17]. Ngài nói thêm: "Sự tương đồng được dùng trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô, một trật soi chiếu mầu nhiệm về những tương quan giữa Đức Kitô và Hội Thánh, thì đồng thời cũng mạc khải chân lý chính yếu về hôn nhân: nghĩa là hôn nhân chỉ tương ứng với ơn gọi của người Kitô hữu khi nó phản ảnh tình yêu mà Đức Kitô-Hôn phu trao tặng cho Hội Thánh, hôn thê của Ngài và Hội Thánh cố gắng đền trả cho Đức Kitô tình yêu ấy" [18].
3. Hôn nhân như là ân sủng của giao ước.
Bí tích hôn phối như ân sủng của giao ước là một điểm nặng tính chất tín lý. Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh đặc biệt đến điểm này trong những buổi triều yết ngày 6, 13, 20 tháng 10 năm 1982, qua những khía cạnh có lẽ sâu xa nhất, tuyệt trác nhất và cũng khúc mắc nhất của thần học thân xác. Chính ở đây, đức Gioan Phaolô II đặt bí tích hôn phối như là 'bí tích chủ yếu' (sacrement primordial), một diễn từ chưa ai dùng. Ngài cũng coi như 'kiểu mẫu đầu tiên (prototype) của các bí tích giao ước mới'. Đây cũng là một ý niệm mới mẻ.
Vậy, trước tiên phải xác định ý nghĩa của 'từ bí tích'. Từ này có ít ra hai ý nghĩa, và đã biến chuyển trong hai mươi thế kỷ qua. Ý nghĩa thứ nhất vừa rộng rãi vừa cổ điển thoát sinh từ truyền thống thánh kinh thời các giáo phụ. Đó là ý nghĩa đức Gioan Phaolô II sử dụng trong những buổi triều yết nói về thần học thân xác. Bí tích có nghĩa là ‘mầu nhiệm của Thiên Chúa giấu ẩn từ đời đời, tuy nhiên không phải là trong một bí mật vĩnh cửu, nhưng trong sự mạc khải và sự thể hiện’ [19]. Xét theo là sự thể hiện của chương trình thần linh vĩnh cửu, thì bí tích liên quan đến phần rỗi nhân loại. Và như vậy, có thể có ‘bí tích sáng tạo’ và ‘bí tích cứu chuộc’. Chính trên cơ bản bí tích sáng tạo mà người ta phải hiểu bí tích hôn phối như bí tích căn bản. - Còn một nghĩa khác, chặt chẽ hơn, hiện đại hơn, đó là ý nghĩa thời xưa người ta học trong cuốn sách Giáo Lý Trẻ Em: 'Bí tích là dấu chỉ bề ngoài và hữu hiệu về ơn sủng, do Chúa Giêsu thiết lập để thánh hóa các linh hồn' [20]. Là máng thông ơn sủng, mỗi bi tích được định tính theo chất liệu (matière) và mô thể (forme) của nó. Đây là gia sản của 'mô chất thuyết ông Aristote' (hylémorphisme aristolicien) khởi xướng và thánh Thomas d’Aquin tu chính lại. Đức Gioan Phaolô II đã dựa trên ý nghĩa cổ thời và rộng lớn của từ bí tích để suy tư và trình bày quan điểm của ngài về bí tích: Bí tích là mầu nhiệm trong chương trình của Thiên Chúa vốn có trong Thiên Chúa từ thuở đời đời. Chính trong ánh sáng này mà chúng ta có thể nhận định bí tích hôn phối như bí tích cơ bản.
4. Hôn phối như bí tích cơ bản.
Ngay phút đầu buổi triều yết ngày 6.10.1982, đức Gioan Phaolô lặp lại điều đã trình bày trong buổi triều yết ngày 20.02.1980, rồi ngài đưa ra một kết luận sâu sắc về đoạn sách Sáng Thế nói đến chương trình của Thiên Chúa từ nguyên thuỷ: "Loài người xuất hiện trong thế giới hữu hình như một diễn từ cao đẹp nhất về ân huệ thần linh bao phủ toàn diện con người. Nhờ ân huệ này, con người đi vào thế gian 'tương giống đặc biệt với Thiên Chúa'. Bởi sự tương giống này, con người trổi vượt và bá chủ ‘hữu hình tính’, vật thể tính, nam tính hay nữ tính và khỏa thể tính của mình (sa visibilité, sa corporéité, sa maculinité ou féminité, sa nudité) trong thế giới. Còn điều khác cũng phản ảnh sự tương giống này, đó là lần đầu tiên, con người ý thức về ý nghĩa vợ chồng qua thân xác, ý thức thấm nhuần mầu nhiệm vô tội nguyên thủy. Như vậy, trong phạm vi hình thành một bí tích cơ bản, chắc chắn có dấu chỉ hữu hình về mầu nhiệm vô hình ẩn dấu nơi Thiên Chúa từ muôn thuở. Đó là mầu nhiệm của Chân Lý và Tình Yêu, mầu nhiệm của sự sống thần linh mà con người thực sự được tham dự" [21].
Bản tóm tắt những phân tích của đức Gioan Phaolô II về sách Sáng Thế kể từ câu trả lời của Chúa Giêsu về việc rẫy vợ, cần phải được xét lại trong ánh sáng của thư thánh Phaolô gửi cho giáo đoàn Êphêsô. Lá thư này quy chiếu về sách Sáng Thế: "Chính vì thế người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ mình để luyến ái với người vợ và cả hai chỉ còn là một huyết nhục" (Ga 2,24). Trong thư gửi cho giáo dân Êphêsô, thánh Phaolô lấy lại câu trích này trước khi quả quyết 'Đây là mầu nhiệm thật lớn lao' (Ep 5,31-32). Đức Gioan Phaolô II lưu ý rằng: thánh Phaolô muốn nói đến ở đây việc thực hiện liên tục vốn có giữa bí tích căn bản dính liền với việc ân thưởng siêu nhiên của người đàn ông ngay trong việc tạo dựng, và hồng ân mới mẻ được trao ban khi Đức Kitô "đã yêu thương Giáo Hội đến nỗi hiến mình vì Giáo Hội hầu thánh hóa Giáo Hội…" (Ep 5,25-26). "Hồng ân mà người ta có thể xác định trong toàn bộ như là bí tích Ơn Cứu Độ" [22].
Theo đức Gioan Phaolô II, ngay ở những câu đầu của thư gửi giáo đoàn Êphêsô, thánh Phaolô như muốn chúng ta về với tình trạng con người trước tội nguyên tổ: 'Chúc tụng Thiên Chúa là thân phụ Đức Giêsu Kitô (…), Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Chúa Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện nhờ tình thương của Người' (Ep 1,3-4). Đó là chương trình của Thiên Chúa dấu ẩn trong mầu nhiệm của lòng Chúa thương xót tự đời đời: Quả vậy, khởi đầu bức thư thánh Phaolô đã chỉ cho chúng ta thấy những ý định vĩnh cửu của Thiên Chúa Cha đối với con người, ngay trước khi tạo dựng con người. Chúa đã chọn chúng ta trước khi tạo dựng vũ trụ. Sách Sáng Thế đã báo trước lời thư của thánh Phaolô khi nói: "Thiên Chúa thấy mọi sự mà ngài đã làm đều tốt lành" (St 1,31). Diễn từ 'thánh thiện và tinh tuyền trước thánh nhan Người nhờ tình thương của Người’ ám chỉ về sự vô tội nguyên thủy, trong đó người đàn ông và đàn bà trần truồng trước mặt nhau mà không mắc cỡ (St 2,25). Nếu đem đối chiếu lời của sách Sáng Thế và lời của thư gửi giáo đoàn Êphêsô, người ta có thể kết luận rằng: thực tại việc tạo dựng loài người, đàn ông và đàn bà, đã mang dấu ấn ‘con người được lựa chọn từ đời đời trong Đức Kitô hầu trở nên dưỡng tử'. Từng người trong chúng ta đã được tuyển chọn như là dưỡng tử ngay trước khi thế giới được tạo dựng. Nhận định này cho phép chúng ta xác định mối liên quan với vấn đề hôn nhân như bí tích cơ bản. Đức Gioan Phaolô II đã trình bày tư tưởng đó trong buổi triều yết ngày 20.02.1980. Đây là một trong những lời phát biểu vừa sâu xa vừa nặng ký nhất về thần học thân xác. Ngài nói: "Như dấu chỉ hữu hình, bí tích (xét theo là chương trình ngàn đời của Thiên Chúa) được thiết lập với con người thọ tạo xét theo là thân xác, và với sự kiện hữu hình nam tính và nữ tính. Như vậy, thân xác và chỉ thân xác, có khả năng làm cho cái hữu hình thành cái vô hình: thiêng liêng và thần linh. Thân xác đã được tạo dựng để chuyển đưa vào thực tại hữu hình của thế giới mầu nhiệm giấu kín từ muôn thuở trong Thiên Chúa thành dấu chỉ hữu hình về Thiên Chúa" [23].Và đó là ơn gọi của thân xác chúng ta, là ơn gọi của hôn phối như bí tích cơ bản. Theo đức Gioan Phaolô II 'Hôn phối là trung điểm của bí tích sáng tạo. Theo nghĩa này, hôn nhân là một bí tích cơ bản' [24]. Quả thật, hôn phối hưởng một phẩm tính bao la trong chương trình sáng tạo của Thiên Chúa tình yêu!
5. Hôn phối, nguyên mẫu của các bí tích Giao Ước Mới.
Theo giáo huấn của đức Gioan Phaolô II, ‘Hôn nhân không những là bí tích cơ bản, mà còn là nguyên mẫu (prototype) của các bí tích Giao Ước Mới’. Vì lý do tội nguyên tổ, hôn phối như bí tích căn bản, đã mất siêu nhiên tính múc lấy từ bí tích sáng tạo vũ trụ. "Tuy nhiên, ngay trong tình trạng này, nghĩa là tình trạng tội phạm di truyền của con người, hôn phối vẫn không ngừng là hình ảnh của bí tích được gợi lên trong thư gửi giáo đoàn Êphêsô" (xEp 5,22-33). Và thánh Phaolô không ngần ngại đánh giá là ‘mầu nhiệm cao cả’. Nào chúng ta lại không thể suy luận rằng hôn phối còn là và luôn là mấu chốt (plate-forme) của việc thể hiện các kế hoạch vĩnh cửu của Thiên Chúa, mà theo những kế hoạch đó thì bí tích sáng tạo đưa con người lại gần và chuẩn bị con người lãnh nhận bí tích cứu độ, dẫn con người đi vào trong chiều kích của công trình cứu rỗi? [25].
Nếu, trong chương 5 của thư gửi giáo đoàn Êphêsô có trích lại lời sách Sáng Thế: "Bởi thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ để luyến ái vợ mình, và cả hai chỉ còn là một huyết nhục" (St 2,24), thì chính vì thánh Phaolô muốn ám chỉ rằng: 'từ đó có sự liên tục giữa bí tích cơ bản và bí tích cứu chuộc, trong đó Đức Kitô, với tư cách là hôn phu, đã hiến mình chịu chết vì Giáo Hội là hôn thê của Ngài. Và chính trong bí tích cứu chuộc, nhờ Đức Kitô đã hiến mình cho Giáo Hội, mà Giáo Hội trở nên một hiền thê đông con cái'. Cho dù sự tương đồng của thư gửi giáo đoàn Êphêsô không nói rõ như thế, chúng ta cũng có thể nói thêm rằng: ‘Nhờ kết hợp với Đức Kitô như vợ kết hợp với chồng của mình, Giáo Hội trở nên phong nhiêu và được thiên chức làm mẹ thiêng liêng của bí tích Cứu Chuộc’ [26].
'Mầu nhiệm này thật cao cả, tôi muốn nói rằng mầu nhiệm ấy ứng dụng vào Đức Kitô và Giáo Hội' (Ep 5,32). Mầu nhiệm này đã trở nên rõ ràng, khi quy chiếu về hôn nhân đã được thiết lập tự nguyên thủy như sách Sáng Thế chứng thực, cũng như khi quy chiếu về sự kết hợp của Đức Kitô và Giáo Hội. Nhưng sự rõ ràng này không muốn nói một cách minh bạch toàn thể mầu nhiệm; mầu nhiệm này vẫn còn bị che khuất như đối tượng của đức tin. Dấu ấn chỉ về thực tại của mầu nhiệm không phơi bày toàn diện thực tại. Chỉ trong sự thưởng kiến hồng phúc chúng ta mới sẽ nhận biết toàn mãn. Sống tại thế, các đôi bạn Kitô hữu mang sứ mệnh hiệp thông, phải trở nên những dấu chỉ sống động của mầu nhiệm lớn lao về sự kết hợp hôn ước giữa Đức Kitô và Giáo Hội [27].
Chúa lấy linh tích ràng buộc, ban nhiều ơn cao siêu
-----------------------------
[15] Buổi triều yết 11.8.1982, s.3
[16] Buổi triều yết 11.8.1982, s.4
[17] Buổi triều yết 11.8.1982, s.8
[18] Buổi triều yết 18.8.1982, s.2
[19] Buổi triều yết 20.10.1982, s.8
[20] Sách Giáo Lý Trẻ Em của thánh Piô X, phần 4, ch.1
[21] Buổi triều yết 20.2.1980, s.3,4.
[22] Buổi triều yết 13. 10. 1982, s.2
[23] Buổi triều yết 20. 2. 1980, s.4
[24] Buổi triều yết 6. 10. 1982, s.6
[25] Buổi triều yết 13. 10. 1982, s.1
[26] Buổi triều yết 13. 10. 1982, s.4
[27] Bài này viết phỏng theo đề tài 'Le mariage dans la lumière des noces du Christ et de l’Eglise'. Trong cuốn La spiritualité conjugale selon Jean Paul II’ của ông Yves Semen, Presses de la Renaissance, Paris, 2010, tr. 236-251.
DUYÊN LÀNH VÀ THÁNH THIỆN CỦA CẶP VỢ CHỒNG
của Ptvv Phạm Bá Nha
Biết bao người và biết bao nhiêu giáo dân
tìm cách hoàn hảo ơn gọi hôn nhân.
Và nhiều người muốn thánh thiện trong bậc vợ chồng
Con cái là vườn xuân, đem lại hạnh phúc và nguồn sinh lực trong gia đình. Nên phải chăm bón và nuôi dưỡng và phát triển ơn gọi bậc vợ chồng. Dù gặp nhiều khó khăn, ngày nay, trong gia đình có nhiều người dấn thân phục vụ người khác và ý thức sâu xa về bảo tồn sự sống.
Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là người quan tâm hơn hết đến gia đình,
Và đặc biệt vai trò vợ chồng trong việc thánh hóa bản thân và giáo dục sống đức tin Công Giáo. Ngày 02.04.1980, trong buổi triều yết, Đức Giáo Hoàng nói: “Biết bao người và biết bao nhiêu giáo dân tìm cách hoàn hảo ơn gọi hôn nhân.
Đức Gioan Phaolô II đã ban hành hiến chương các gia đình (24.11.1983) và mở năm Gia Đình (26.12.1993), gửi thư cho các gia đình (2.4.1994), lập Giáo Hoàng Học Viện về Sự Sống (11.2.1994), Gởi thư cho các lãnh đạo các quốc gia (19.3.1994), cảnh giác về chiều hướng văn hóa sự chết nơi hội nghị về Dân Số ở Cairo. Gửi thư cho trẻ em kết thúc năm Gia đình (13.12.1994).
Không phải dư thừa bàn lại hai phiá cạnh sống ‘‘Duyên Lành’’ và ‘‘Thánh Thiện’’ của cặp vợ chồng
1. Vợ chồng sống qua duyên lành
Văn hóa gia đình VN ghi rõ nét từ khi tình yêu chớm nở tới khi thành gia thất.
Không phải ngẫu nhiên, tình cờ mà trở thành vợ chồng. Hai người như có duyên và nợ với nhau. Bên ngoài như "đôi đũa lệch", thế mà vợ chồng Yêu thương, chung thủy sắt son, ăn kiếp ở đời.
- Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn
- Theo nhau cho trọn đạo đời
Dẫu mà không chịu, trải tơi mà nằm
- Không thiêng cũng thể bụt nhà
Dầu khôn dầu dại cũng là chồng em
- Thuyền theo lái, gái theo chồng
Hôn nhân gia đình được họ hàng chứng giám, tác thành
- Hạt lúa vàng, hạt thóc cũng vàng
Anh yêu em, bác mẹ, họ hàng cũng yêu
Cùng nhau làm việc xây dựng mái ấm gia đình
- Khuyên chàng đọc sách ngâm thơ
Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu
- Qua đồng ghé nón thăm chồng
Đồng bao nhiêu lúa, thương chồng bấy nhiêu
- Gái thương chồng, đương đông buổi chợ
Trai thương vợ, nắng quái chiều hôm
- Râu tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon
- Lấy chồng cận núi kề sông
Nước không lo cạn, củi không lo tìm
Kết quả là sinh con đẻ cái và cùng nhận trách nhiệm giáo dục
- Anh về chẻ nứa đan sàng
Chẻ tre đan chõng cho nàng ru con
- Thương ai bằng nỗi thương con
Nhớ ai bằng nỗi gái son nhớ chồng
Luật đạo đời không xa nhau. Nếp sống và phong tục Việt Nam phù hợp phần nào với bí tích hôn nhân Công Giáo. Qua Thánh Kinh:
- Thiên Chúa dựng có nam có nữ, giống hình ảnh Ngài. (St 1, 2-28)
- Mục đích hôn nhân là sinh con cái để thờ phượng Thiên Chúa. (St 1, 20-28)
- Vợ chồng hoà hợp chung sống. (St. 2, 18-24)
- Vợ chồng theo Việt Nam gọi là duyên. Công Giáo là "Chúa se định". (x. St 4, 48-51)
- Bí tích hôn nhân ràng buộc sống đến cuối đời, không bỏ nhau. Họ là không còn là hai, mà là một xương một thịt. "Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không thể phân ly". (Mt 19,6)
- Họ sống đúng luật yêu mến Thiên Chúa và mọi người. (Mt 22, 37-39)
2. Sống hòa hợp thánh thiện
Lịch sử Giáo Hội cho hay, từ thánh thiện cá nhân ảnh hưởng tới khi chung sống vợ chồng và lây lan cả gia đình thánh thiện. Trong thời gian gần đây có nhiều cặp vợ chồng đạo đức thánh thiện xả thân phục vụ Giáo Hội và Tin Mừng, được Giáo Hội tuyên phong lên bậc chân phước
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận xác nhận trách nhiệm giáo dục của vợ chồng:
- Sinh con không phải đáp lại nhu cầu nối tiếp giống nòi, nhưng là ước muốn tăng trưởng nhiệm thể, giáo dục con cái huấn luyện những kẻ thờ phương Chúa cách trung thực. Khám phá và khâm phục ý định cao cả Chúa về gia đình các con (ĐHV 491)
Trong Thánh Kinh kể lại, Bà mẹ cùng 7 người con bị bắt, bà nhìn các con chết trước mặt trong một ngày. Mà bà can đảm cậy trông nơi Thiên Chúa. Bà khuyên từng người con: nhận biết Thiên Chúa, đừng sợ đao phủ, và thương mẹ, sinh ra và nuôi các con (x. 2Mcb 7, 1-42)
Kinh nghiệm mục vụ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận viết: Tình yêu luôn thao thức, không phải vì hoài nghi tình yêu của người bạn mình, nhưng vì thấy mình có trách nhiệm tạo cho nhau những gì mới mẻ, là cảm hứng, biến đổi, có khi chính bạn cũng không biết. Chính nỗi thao thức ấy là niềm vui. (ĐHV.471)
Mẫu gương sáng ngời nơi Ông bà Chân Phước Luigi Beltrame Quattrocchi (Ý, 1880-1951) và Maria Corsini (1884-1965),
Ngày 21-10-2001, lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội, tại công trường Thánh Phêrô Roma, Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã phong Chân Phước cho hai vợ chồng. Đó là Ông Bà Luigi Maria Beltrame Quattrocchi.
Đời sống đức tin của Ông Bà ghi lại nhiều nét độc đáo nổi bật:
- Trong những trang nhật ký khi mới quen nhau, và thư từ trao đổi, bằng tiếng Anh, vì thấy còn nhiều lỗi sai văn phạm, cho thấy từ thời xuân xanh, hai người trẻ đã có những tình cảm rất nồng nàn, say đắm theo đuổi lý tưởng. Hai ông bà thành hôn năm 1905. Sau 21 năm thành hôn, theo lời khuyên của cha linh hướng, hai người quyết từ bỏ đời sống tính dục. Lúc ấy ông Luigi mới 46 tuổi và bà Maria 41 tuổi. Các nhà chép sử cho rằng đây là sự độc thân cao cả không phải cuồng tín. Nhưng biểu lộ cho lòng khiết tịnh mở đường cho mức cao đời sống tâm linh.
- Mỗi sáng, ông bà siêng năng tham dự Thánh Lễ và rước lễ. Trong nhà tổ chức đọc kinh, lần chuỗi Mân Côi chung. Cụ ông Luigi qua đời năm 71 tuổi. Những năm cuối đời cụ bà đã bỏ bớt thời giờ viết văn, để chuyên tâm cầu nguyện. Cụ Maria qua đời năm 81 tuổi. Đức Hồng Y Jose Saraiva Martins, Tổng Trưởng Bộ Phong Thánh đã nhấn mạnh đến những điểm nổi bật của đôi vợ chồng này về đời sống cầu nguyện, tham gia tích cực trong các sinh hoạt và phong trào của Giáo Hội, tạo bầu khí ấm cúng, sự qúi mến lẫn nhau giữa cha mẹ và con cái. Về bà Maria, Đức Hồng Y xác định rằng bà đã trực diện trước cái chết, cụ Maria đã hoàn toàn phó thác ‘‘tình yêu và sự bí nhiệm nơi Chúa Quan Phòng’’.
Trong bài giảng, Đức Giáo Hoàng chủ phong nhấn mạnh: Hôm nay chúng ta có một khẳng định dứt khoát rằng con đường nên thánh theo ơn gọi sống đời vợ chồng là có thể, là đẹp, là sinh hoa trái cách ngoại thường và là căn bản cho gia đình, xã hội và Giáo Hội.
Về hai Chân Phước, Đức Thánh Cha nói: Cả Hai đã sống cuộc sống hàng ngày qua con đường phi thường. Ngay giữa bao nhiêu niềm vui cũng như bao mối bận tâm của đời sống thường ngày, Họ đã có đời sống thiêng liêng hoàn hảo. Việc rước lễ hằng ngày là trung tâm của đời sống họ. Thêm vào đó, Họ có lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt bằng việc lần hạt Mân Côi mỗi tối cũng như luôn biết tìm đến các sách thiêng liêng trong đời sống hằng ngày. Ông Luigi, qua bao lo toan, buồn vui, với tư cách là cha, là chồng, ông luôn quan tâm đến việc giáo dục và sống đức tin Kitô hữu trong gia đình. Trong khi đó, bà Maria là một nội trợ có văn hóa cao và một đức tin sâu đậm.
Sau đó, Đức Thánh Cha khích lệ những cặp đang gặp khó khăn trong đời sống đôi bạn, đau yếu hay con cái không được ngoan như mong muốn. Nhiều người khóc khi nghe Đức Thánh Cha đề cập đến những gian nan thử thách trong đời sống vợ chồng, và cảm động vì những lời khích lệ của ngài cũng như gương sáng của hai Chân Phước mới. (ĐMHCG. 11-2001, tr. 62-63)
Cần cha mẹ thánh thiện trước mới dễ bề giáo dục. Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận xác nhận: Ngạc nhiên khi nghe đến ơn gọi cha mẹ gia đình, người ta lầm tưởng khi dành ơn thiên triệu bậc trọn lành cho tu sỹ thôi. (ĐHV 476).
Đây là trường hợp Ông bà Chân Phước Louis Martin (Pháp, 1823-1894) và Zélie Guérin (1831-1877), song thân Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu.
Ông Louis và bà Zélie ước ao nên thánh, quyết tâm nên thánh bằng công việc căn bản của mỗi Kitô hữu: chu toàn bổn phận trong gia đình, trong nghề nghiệp, sống đời sống bí tích, trung thành với việc cầu nguyện, tham gia sinh hoạt giáo xứ và góp phần vào những công việc bác ái từ thiện.
Từ thanh xuân hai người muốn đi tu.Ý Chúa nhiệm mầu, ngày 13.8.1858, Louis 35 tuổi, và Marie 29 tuổi, làm lễ thành hôn, tại nhà thờ Đức Mẹ thành Alençon, bắc Pháp. Ngay chiều ngày cưới, Louis đã nói với bạn trăm năm: mình ước ao giữ gìn với bạn như em mà thôi. Nhưng ít tháng sau, hai người đã hiểu được trách nhiệm vợ chồng.
Ước mong duy nhất là có con trai làm linh mục Truyền giáo. Ông bà sinh hạ 9 người con. Hai trai và hai gái đã về Thiên Đàng sớm. Còn lại 5 gái đều đi tu: Marie Louis (1860-1940), tu Dòng Kín Lisieux. Marie Pauline (1861-1951), tu Dòng Kín Lisieux. Marie Léonie (1883-1941), tu Dòng Thăm Viếng. Marie Céline (1869-1959) tu Dòng Kín Lisieux và Marie Françoise Thérèse (1873-1897) tu dòng Kín Lisieux. Lấy tên Thérèse de Jésus
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong chân phước và nói trong giảng lễ, 19.10.2008, tại Lisieux:
“Cặp vợ chồng này đã loan truyền Phúc Âm của Kitô qua hôn nhân gương mẫu của họ. Họ nhiệt thành sống đức tin và chuyển tiếp cho gia đình và mọi người chung quanh. Qua lời kinh và nhân chứng Phúc Âm song thân thánh Têrêsa đồng hành và chia sẻ hành trình đức tin của ái nữ", người được Chúa gọi để tận hiến cho Người bên trong các bức tường của tu viện Camêlo.
Chính tại đây, trong bóng tối Dòng Kín, thánh Têrêsa ý thức được ơn gọi của mình là "Tình yêu trong trái tim Giáo Hội". Nghĩ đến phong thánh cho Ông Bà Martin, tôi muốn nhắc lại ý chỉ khác mà tôi yêu thích có là gia đình. Gia đình có vai trò căn bản trong việc nuôi dưỡng con cái trong tinh thần hoàn vũ, cởi mở và đáp ứng với thế giới và các vấn nạn hiện nay và tạo dựng các ơn gọi cho đời sống truyền giáo. (DCAC 313, 11.2008, tr.18)
Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế "mục vụ về Giáo Hội Trong Thế Giới Ngày Nay" (Gaudium et Spes) đã nói đến sự thánh thiện hôn nhân và gia đình: Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống vợ chồng định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận không thể rút lui… nhờ sức mạnh của bí tích này, họ thấm nhuần tinh thần Chúa Kitô để chu toàn bổn phận hôn nhân và gia đình, nhờ đó tất cả đời sống của họ thấm nhuần Đức Tin, Cậy, Mến và càng ngày họ càng tiến gần sự trọn lành riêng biệt của họ và sự thánh hóa lẫn nhau. Cùng nhau tôn vinh Thiên Chúa. (x. 48)
Công Đồng xác nhận thêm đặc tính hôn nhân là Thiên Chúa muốn tất cả mọi người thành một gia đình đối xử với nhau bình đẳng tình huynh đệ. Và nhất là được thánh hóa hai người ‘nên một, như chúng ta nên một’’ (x. Ga 17, 21-22), (x. số 24)
Trong buổi triều yết, 6.11.2013, tại công trường Thánh Phêrô, với hơn 100.000 khách hành hương, trong đó có khoảng 100 trẻ em tàn tật, đức Phanxicô nói: Không có tình yêu, tất cả mọi ơn không ích lợi cho Giáo Hội. Vì ở đâu không có tình yêu thương, thì sự trống rỗng được lấp đầy bởi ích kỷ. Sống hiệp nhất của Giáo Hội, sự hiệp thông bác ái có nghĩa là không tìm lợi lộc riêng mình, mà chia sẻ với đau khổ và vui mừng của anh em khác (x. 1Cr 12,26)
Cuối lời huấn dụ, ngài xin mọi người làm cử chỉ bác ái, không phải xin tiền. Ngài kể vừa đi thăm em Noemi, 1 tuổi rưỡi, bị bệnh nặng: Em cười thật tội nghiệp. Chúng ta không biết em, nhưng em được rửa tội, một Kitô hữu. Trong thinh lặng xin Chúa và đọc kinh Kính Kính Mừng, xin Đức Mẹ cho em sức khỏe, cho những cha mẹ khôn ngoan thánh thiện nuôi và giáo dục con. Mọi người trong quảng trường cùng đọc kinh Kính Mừng.
ĐỂ HÔN NHÂN TRỞ NÊN MỘT ƠN GỌI
của C. Micheline Kim Chi
"Hôn nhân trở nên như ơn gọi của Kitô hữu với điều kiện phản ảnh được tình yêu của Chúa Kitô hôn phu, yêu thương Giáo Hội hôn thê, và Giáo Hội cố gắng đáp trả tình yêu ấy"
(Gioan Phaolô II, buổi tiếp kiến ngày 18.8.1982)
1. Cho mình hay cho người
Đám cưới nào cũng là niềm vui cho gia đình và bạn bè của cô dâu chú rể. Những câu chúc và quà tặng cho đôi uyên ương thật ý nghĩa và tốt đẹp như: trăm năm hạnh phúc, hạnh phúc tới răng long tóc bạc v.v Nhất là niềm vui của cô dâu, như xác nhận một lần nữa với cha mẹ: Đây là người đàn ông con đã chọn, người sẽ mang lại hạnh phúc cho đời con.
Kết hôn là việc tự nhiên của con người, có người muốn có một trạng thái đầy đủ về cảm xúc và tình cảm trong hôn nhân, thường thấy ở phái nữ, hay hy vọng những xoa dịu của tình dục, xảy ra với phái nam. Và cũng không thiếu những đôi kết hôn để tìm được sự an toàn của một vài điều trong cuộc sống: tiền bạc, danh vọng, hay để lấp một khoảng trống cô đơn. Đây là sự thường gặp ở những người tìm mọi cách đi đến hôn nhân, để thoát ra khỏi một hoàn cảnh khó khăn nào đó. Thái độ này thường làm cho người bạn yêu lẩn tránh dù bạn không thiếu những tính tốt, nhưng người khác phái có cảm nhận là họ bị bạn lợi dụng.
Xã hội hiện đại có xu hướng phá vỡ những giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống, hôn nhân như chiếc bình thủy tinh mong manh dễ vỡ, vì mỗi hôn nhân là kết hợp giữa hai người khác biệt, có những quan điểm, ý thích không giống nhau, mâu thuẫn về nhiều điều. Khi hai người dự định kết hôn để thành lập một gia đình, cần xem xét kỹ lưỡng về những cá biệt của mình với người bạn đời, để có thể đồng ý phát triển, một tinh thần hôn nhân thích hợp cho cả hai. Đây có thể là một tiến trình rất khó khăn, nếu vội vàng thì sự tìm hiểu sẽ dễ lầm lẫn đưa tới thất vọng khi chung sống vì sự khác biệt của mỗi người.
Nếu coi hôn nhân như động lực để đạt mọi điều ước muốn của mình thì đó là một sự nguy hiểm không nhỏ. Người bạn đời của mình sẽ trở nên một phương tiện để thỏa mãn nguyện vọng mình đã "xây mộng", quên rằng người đó là con người chứ không phải là một dụng cụ. Nhiều khi cả hai người cùng một mục đích tìm ở đối tượng những khả năng để thỏa mãn tự ái cá nhân, họ mong tìm được hạnh phúc với người bạn đời của mình, trong trường hợp này, không có gì là sai trái, Sự tự nguyện cả hai là do tình cảm và lương tâm, khác với ơn gọi của các linh mục, tu sĩ, sự kết hôn của họ là xu hướng tự nhiên của con người, không phải là đáp lại ơn gọi, ngay cả khi họ lãnh nhận Bí tích hôn phối.
Bản tính hôn nhân là phát triển giá trị phục vụ và yêu thương của hai vợ chồng, người ta kết hôn để khám phá ra cách chia sẻ cho nhau tình yêu, ân sủng và tài năng mà Chúa đã ban cho mỗi người, trong hôn nhân không có sự lấn áp, ai hơn ai kém. Kết hôn là cơ hội cho người chồng và người vợ phục vụ lẫn nhau để xây đắp hôn nhân và tạo hạnh phúc gia đình, mà nó sẽ được coi là một đơn vị có giá trị của nước Thiên Chúa ở trần gian.
2. Khả năng hay ơn gọi
Dưới khía cạnh Kitô giáo, hôn nhân là một ơn gọi, là một hành động tốt đẹp và thánh thiện, là Bí tích, tình yêu vợ chồng trở nên phương tiện để qua đó mỗi người cảm nhận được tình Chúa yêu thương, nâng đỡ, qua lời kinh nguyện. Điều này giúp cho vợ chồng vượt qua được những cám dỗ, khó khăn đầy rẫy trong đời sống hôn nhân. Chỉ có thể gọi hôn nhân Công Giáo là ơn gọi khi tình yêu của vợ chồng được thể hiện với những đòi hỏi như "Hôn nhân tương đương như ơn gọi của người Kitô hữu với điều kiện phản ảnh được tình yêu của Chúa Kitô hôn phu, yêu thương Giáo Hội hôn thê, và Giáo Hội cố gắng đáp lại tình yêu ấy". Đức Phaolô II đã nhấn mạnh trong buổi tiếp kiến ngày 18.08.1982. Lời nói này là sự đòi hỏi tuyệt đối làm những người sửa soạn kết hôn e ngại, chúng ta hãy chú ý từng chữ, Ngài nói rất rõ: "Không phải là ơn gọi… Nếu…" Khi vợ chồng cùng hứa yêu thương nhau như yêu thương Thiên Chúa, cả hai đã tạo được một ơn gọi hôn nhân đích thực. Tính cách tuyệt đối và cốt lõi điều Đức Thánh Cha đưa ra làm chúng ta phải suy nghĩ: tình yêu này phải phản ảnh tình yêu tuyệt đối của Chúa Kitô hôn phu, với Giáo Hội hôn thê. Yêu đến độ Ngài đã tận hiến mình chết trên thập giá.
Nếu tình yêu của vợ chồng cũng tương tự như tình yêu của Chúa với Giáo Hội thì vợ chồng cũng phải thương yêu nhau hết lòng và hy sinh cho nhau. Nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy tình yêu của bao người đã hiến mình vì ơn gọi yêu thương Giáo Hội (các Thánh tử vì đạo, các Thánh, những nhà truyền giáo) thật không phải dễ! Nhưng chỉ cần, khi kết hôn vợ chồng theo đúng những đòi hỏi của tình yêu thương nhau thì hôn nhân đó đã là một ơn gọi đích thực của người Kitô giáo.
Hôn nhân Công Giáo còn là một tương giao với Thiên Chúa như là một thành phần hợp tác cùng hai vợ chồng, là một quyết định đứng đắn và ngay thẳng để bao gồm Thiên Chúa như một dấu chỉ bảo chứng cho tình yêu hai người. Tin tưởng Thiên Chúa hiện diện trong tình yêu hôn nhân đem lại một kết quả thực tiễn khác: khi có những xung khắc, bất hòa, thử thách, vợ chồng ít muốn đối nghịch với nhau. Họ quay về với Thiên Chúa để tìm sự trợ giúp, cùng cầu nguyện chung, trong những lúc khó khăn nhất, họ luôn tin tưởng và dựa vào sự hiện diện của Ngài trong đời sống lứa đôi để bám chặt, tìm về bên nhau.
3. Kết hôn hay việc làm
Nếu hôn nhân trở nên một ơn gọi của Kitô hữu thì đôi vợ chồng cũng phải nghĩ và xây dựng cho nhau trong đời sống hôn nhân và nghề nghiệp. Văn hóa hiện đại thời nay đánh giá tất cả vào sự thành công hay những đòi hỏi của nghề nghiệp, là Kitô hữu chúng ta cần suy nghĩ sâu xa hơn về sự liên hệ giữa những hoạt động nghề nghiệp và ơn gọi hôn nhân. Làm cách nào đặt thứ tự và tầm quan trọng giữa bổn phận gia đình và công ăn việc làm, nhất là khi nghề nghiệp đòi hỏi ta phải dành nhiều thì giờ?
Thật khó tìm được giải pháp toàn vẹn. Nếu đôi vợ chồng cùng xem hôn nhân như một ơn gọi để hiến dâng tình yêu cho nhau như Đức Kitô đã hiến mình cho Giáo Hội thì ơn gọi Kitô hữu phải làm trước tiên là lo cho hôn nhân và gia đình của họ, đó cũng là điều đẹp ý Thiên Chúa. Nhưng tiếc thay, cũng có những cặp vợ chồng quá lo toan cho nghề nghiệp mà quên hẳn bổn phận gia đình.
Khi anh Đông, luật sư, và chị Xuân, kỹ sư nông lâm, quyết định xin chịu Bí tích hôn phối sau một năm rưỡi yêu nhau, gia đình, bạn bè đều vui mừng và cho rằng họ là cặp vợ chồng lý tưởng, rất xứng đôi. Cả hai đều đã nỗ lực để thăng tiến trong nghề nghiệp, với những hy sinh, để đạt được thành công như hiện tại, họ nghĩ rằng họ sẽ tiếp tục cố gắng hơn để xây dựng sự nghiệp, tạo một gia đình hạnh phúc. Sáu tháng sau, Đông được lên chức nhưng phải đi làm việc ở bên Arabie Saoudite, Xuân không muốn chồng đi làm xa, nhưng Đông đã thuyết phục vợ với những lý lẽ chắc nịch và rất thực tế như: thời buổi kinh tế khủng hoảng, đây là cơ hội để Đông sẽ tiến xa hơn, lương tăng gấp ba, vợ chồng phải hy sinh để củng cố ngân quỹ gia đình lo cho con cái sau này, không lâu anh sẽ trở lại Pháp làm việc... Xuân đành đồng ý để chồng đi làm xa dù chị hơi e ngại, vợ chồng chị sẽ cô đơn, trống trải lắm đây vì "anh ở đầu sông, em cuối sông". Hai, ba tháng một lần, Đông và vợ đi thăm nhau, làm chuyến khứ hồi đã mất hai ngày, thời gian gần nhau chẳng được bao nhiêu, chưa kể có những khi Đông bận rộn vì việc làm, họp ở sở bất kể ngày giờ, làm Xuân xót xa vì thương chồng. Đông cũng bỏ không dự lễ như khi ở Pháp vì là xứ Hồi giáo, nhà thờ Công Giáo hầu như không có, trừ một vài nơi dành cho nhân viên ngoại giao của các sứ quán. Đông chờ qua năm, hy vọng được chuyển đi nơi khác, Xuân cũng sốt ruột không kém chồng, nhưng Đông nói cứ chờ chứ không muốn làm đơn xin đổi ngay, anh vẫn có ý mong được thăng thưởng thêm lần nữa trước khi đi. Hai năm trôi qua, cả hai vợ chồng đều mệt mỏi, nhất là Xuân, những lần gặp chồng nàng luôn thúc dục Đông xin đổi việc làm về Pháp, vợ chồng được gần nhau, Đông ậm ừ cho qua chuyện… rồi những ngày tháng chờ đợi trôi qua… Khi hai người có cơ hội ở gần nhau, họ không muốn nói với nhau một lời nào, không khí ngày càng trở nên nặng nề. Tám tháng qua, cả hai đều mệt mỏi, không giải quyết được vấn đề, cùng đồng ý lập đơn ly dị. Họ không biết phải chọn nghề nghiệp hay hôn nhân? Đời sống lứa đôi của họ thọ được ba mươi tháng, chưa đầy ba năm!
Maurice Shumann, một người Công Giáo, đã cho chúng ta thấy ông không kết hôn để dành hết cuộc đời làm chính trị, hoặc như nhạc sĩ nổi tiếng Camille Saint-Saens, kết hôn trễ, ở tuổi 40, có đời sống nội tâm và một đức tin vững vàng, nhưng vẫn không thể dung hòa những đòi hỏi trong đời sống nghệ thuật với đời sống gia đình.
Mỗi hoàn cảnh đều có những khác biệt, không phải chúng ta phải tránh làm một số nghề, nhưng khi lập gia đình, chúng ta cần đề cao cảnh giác là dành phần ưu tiên cho đời sống gia đình. "Công việc trước hết là để dành cho con người chứ không phải con người dành cho công việc" đức Gioan Phaolô II đã nhắc lại trong thông điệp nói về công việc của con người. Người nói tiếp "Chúng ta nên nhớ và xác tín rằng: gia đình là trọng tâm, để từ đó luật lệ xã hội và đạo đức được tạo thành"
Chúng ta có thể dung hòa để đưa đến một thỏa thuận nào đó, nhưng về phương diện trên, khi kết hôn, người Kitô hữu phải dành ưu tiên cho ơn gọi gia đình, mọi thứ khác chỉ là phần phụ thuộc. Ta sẽ nghĩ sao khi một linh mục bỏ thì giờ cầu nguyện để lo việc khác trong cộng đoàn? Người ta kể rằng các nữ tu ở dòng Thừa sai bác ái của Mẹ Têrêsa, dù kiệt sức trong công việc phục vụ những bệnh nhân đang hấp hối trong thành phố Calcutta, Mẹ Têrêsa Calcutta đã không bớt thời giờ cầu nguyện mà mỗi ngày lại tăng thêm một giờ chầu Thánh Thể. Cũng như một kỹ nghệ gia Gia nã Đại đã hỏi người "Tôi có phải hiến tất cả của cải như trong Thánh Kinh dạy không? Mẹ Têrêsa trả lời: Ông không thể cho, những của này không thuộc về ông, ông chỉ là người quản lý chỉ để cai quản. Nhưng ông có thể cai quản theo cách của Chúa Giêsu, là làm theo thứ bậc tình yêu của ông: vì ông có gia đình, trên hết là vợ, rồi đến các con của ông, tiếp theo mới đến những nhân viên trong xí nghiệp" Lúc đó, vị kỹ nghệ gia mới ý thức là ông đã đảo ngược những bậc thang ưu tiên của đời sống. Ông đã đặt xí nghiệp lên trên hết, sau đó rất xa, mới đến vợ con.
Về phương diện này, vợ chồng Kitô hữu sống trong ơn gọi hôn nhân có thể sẽ gặp những điều đối nghịch trong một xã hội mà con người phải phụ thuộc nhiều vào đời sống nghề nghiệp, đôi khi họ phải hy sinh can đảm, bỏ qua những cơ hội thăng tiến trong việc làm. Nhất là cần ý thức rằng không gì tốt đẹp và cao cả bằng công việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Trong thư gửi các gia đình năm 1994 đức Gioan Phaolô II không ngần ngại nói rằng "Trong gia đình, chúng ta phải nhấn mạnh đến giá trị, tầm quan trọng những công việc phụ nữ làm trong gia đình, công việc này phải được nhìn nhận và đánh giá cách tối đa. Trách nhiệm của người đàn bà, sau khi sinh con, nuôi nấng, trông con rồi dậy dỗ đứa trẻ, nhất là khi chúng còn nhỏ, rất lớn và quan trọng không kém gì một công việc chuyên môn". Vì thế, để tìm ra ơn gọi hôn nhân, cả hai cũng phải khôn ngoan cân nhắc và nhất là chung lời cầu nguyện.
Có nhiều mặt phải giải quyết trong cuộc sống, thiết tưởng, nếu đôi lứa coi hôn nhân như sự đáp trả một ơn gọi thì cần cân nhắc lấy quyết định chọn đời sống gia đình.
Chúc Anh Chị trung thành với ơn Chúa và trọn đời hạnh phúc.
Linh Đạo Hôn Phối Phần 2
HẠNH PHÚC HÔN NHÂN
1. 'Ai sẽ chỉ cho ta thấy hạnh phúc?
2. Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi... (St 2,23).
3. Còn Ta, Ta bảo các ngươi:
4. Nhược bằng họ không tiết dục
5. Cũng vậy,
6. Người đã làm ra tự một người
LÀM SAO ĐỂ VỢ CHỒNG SỐNG HẠNH PHÚC?
1. Nhân vô thập toàn
2. Sự thứ tha, con đường hiến thân.
3. Thứ tha và kết hiệp
TRƯỞNG THÀNH CỦA TÌNH YÊU
1. Đêm tối của cảm xúc
2. Đêm tối của lý trí
3. Cho tới khi cái chết chia cách chúng ta
NIỀM VUI TRAO BAN
1. Vai trò của thân xác trong cuộc sống lứa đôi.
2. Niềm vui hiệp thông.
3. Niềm vui vẫn tồn tại.
HẠNH PHÚC HÔN NHÂN
của AC Phạm Hòa Hiệp
"Thông điệp "Đời sống con người" giúp chúng ta phác họa một linh đạo cho đời sống vợ chồng. Sự tương giao hôn nhân hòa thuận được hình thành trong hợp-thức phàm trần và siêu nhiên. Sự tương giao hòa thuận này hàm nghĩa rằng đôi vợ chồng cùng đặt mình trong sự tỏ bày trung thực của thân xác." (Trần thuyết trong triều yết ngày 21-11-1984 – Thánh giáo hoàng Gioan-Phaolô 2)
1. 'Ai sẽ chỉ cho ta thấy hạnh phúc?
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con nhiều hoan lạc, hơn khi thiên hạ được mùa, lúa rượu đầy dư...’ (Tv 4,7-8)
Con người ước vọng hạnh phúc. Từ thuở con người được sinh ra trong vũ trụ, qua mọi thời miên man khắc khoải kiếm tìm, ước vọng này đã gợi lên nhiều trọng đề nghị luận khả dĩ triển khai thích đáng sự hiểu biết về con người và về hạnh phúc. Con người trong tương quan với Trời? với vũ trụ vạn vật? con người với chính mình và với tha nhân?... Cũng trĩu nặng những ưu tư ấy, hạnh phúc tròn đầy trong cuộc sống lứa đôi, tương quan vợ chồng, một tương quan giao tiếp nam nữ có những nét chấm phá riêng chứa đựng những chiều kích vô cùng nhiệm lạ "người với ta tuy hai mà một"... Thật vậy, một cách lạ lùng, trong đời có những người tự nhiên mình khó nói chuyện, hoặc có những người tự dưng mình cảm thấy không hợp và có những người không tài nào mình có thể đi đến một sự thông cảm giao hòa... Thế nhưng, giữa lòng nhân loại đông như sao trời cát biển, khi có một đôi bạn nam nữ tự do đón nhận nhau trong lòng mến chân thành ươm hạt một tình yêu thủy chung như nhất, phải nói đó là một hiện tượng huyền nhiệm của tình yêu đôi lứa "tình cho nhau môi ấm, một lần là trăm năm"... Yêu là gì? tình yêu từ đâu xuất hiện vào đời đôi bạn tình nhân? Một ngọn nguồn tình yêu, có hay không? là hiện thực hay chỉ là mộng mơ?
Đây giây phút lương duyên đầy thi vị
Đẹp như trời tinh khiết buổi thái sơ
Đây giao hòa, cõi thực giữa cõi mơ
Xin thành kính dâng lên Nguồn Chí Ái...
(Nhiệm lạ - Linh mục thi sĩ CUNG CHI)
Trong ánh đuốc truy tìm hạnh phúc... Những suy nghĩ nào, những chọn lựa nào...
"Trai khôn tìm vợ chợ đông, gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân"... Tiến đến hôn nhân, ai cũng mong được người bạn đường ý hợp tâm đầu, không hay cãi vã gây bất thuận bất hòa, đó là căn bản cho hạnh phúc gia đình. Theo kinh nghiệm dân gian thì các tuổi sau đây hợp nhau (các bộ tam hợp): THÂN-TÝ-THÌN; DẦN-NGỌ-TUẤT; HỢI-MÃO-MÙI; TỴ-DẬU-SỬU. Các tuổi khắc nhau (các bộ tứ xung) là: DẦN-THÂN-TỴ-HỢI; THÌN-TUẤT-SỬU-MÙI; TÝ-NGỌ-MÃO-DẬU. Nếu không hợp (nằm trong bộ tam), thì cũng đừng xung (nằm trong bộ tứ)!
Tin Mừng của Chúa Kitô lại gợi lên một sinh hoạt vợ chồng Yêu thương trong sự nối kết khắng khít THIÊN-NHÂN-ĐỊA: Yêu thương giữa vợ chồng, từ bi bác ái giữa vợ chồng, ý hợp tâm đầu giữa vợ chồng... sự sinh hoạt trần gian đầm ấm hạnh phúc vợ chồng, ấy là do sự kết hiệp tình yêu vợ chồng trong Thiên Chúa, hướng về Thiên Chúa, không xa cách hay cắt đứt với Người.
Đường tương lai trước mặt đang rộng trải
Chúng con đi mang âu yếm trong lòng
Tay nắm tay tính chuyện tát bể Đông
Xin được lãnh ơn Thiên Linh cao cả...
(Nhiệm lạ - Linh mục thi sĩ CUNG CHI)
Khoa học về con người, cách riêng về đời sống tâm linh của con người cho thấy rằng khuynh hướng tìm đạt hạnh phúc nơi con người đối chiếu tương ứng với những điều mặc khải của Thiên Chúa trong Tin Mừng Chúa Kitô mang đến cho con người. Nói khác, người ta cảm nhận rằng mặc khải của Thiên Chúa có thể làm thỏa mãn những ước vọng của con người nơi tâm hồn, có thể lấp đầy những đòi hỏi cùng tận của lòng con người. Xét về bản tính tinh thần, nơi con người có sự ước ao đạt đến sự thật tuyệt đối, sự lành tuyệt đối, hạnh phúc tuyệt hảo... và những khát vọng ấy diễn tả trong mỗi hành động tự do và hiểu biết của con người. Tín thư mặc khải tình yêu tinh tuyền trọn hảo theo mời gọi của Thiên-Chúa-Tình-Yêu luôn vang động vào tận cùng sâu thẳm tương quan vợ chồng cả hồn cả xác.
2. Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi... (St 2,23).
Từ khởi nguyên tạo thành: Là nam là nữ Người đã dựng nên chúng. Bởi thế mà đàn ông sẽ bỏ cả cha mẹ mình, và cả hai, chúng sẽ nên một thân xác (Mc 10,6). Vậy điều Thiên Chúa đã phối hợp thì người ta chớ có phân ly (Mc 10,9).
"Đâu có tình yêu thương ở đấy có Đức Chúa Trời, đâu có lòng từ bi, ở đấy có ân sủng Người, đâu có lòng bác ái, thì Chúa chúc lành khôn nguôi, đâu ý hợp tâm đầu, ở đấy chứa chan niềm vui..." (thánh ca Đâu có tình yêu thương - Vinh Hạnh)
"Đạo vợ chồng tình sâu nghĩa ái "(Gia huấn ca - Nguyễn Trãi)
Không phải là không biết đến những lời kinh thánh, những lời khuyên dạy của đạo lý thánh hiền, trải nghiệm đời sống vợ chồng, có lẽ là đại đa số nếu không muốn khẳng định là hầu hết mọi người, đều cùng nhận thức rằng những bức tranh của cuộc sống lứa đôi không luôn luôn chỉ toàn là những bức tranh tươi đẹp hừng sáng mầu hồng. Những cuộc tình đôi lứa có thể có đầy đủ những hỷ nộ ái ố tham sân si, đầy đủ những đen tối phũ phàng của vị kỷ, so bì, tị nạnh, ghen tuông, hờn oán, bạo hành, phân ly, dối gạt, bất trung, thù hận.... khả dĩ đẩy đưa đến mọi hình thái của thảm cảnh, của địa ngục trần gian.
Từng lời nói, từng cử chỉ, tấc dạ
Từng tia nhìn, từng khóe mắt, nụ cười
Cả những lúc thinh lặng đến rợn người
Xin biến hóa thành tình ca muôn điệu
Gặp những phút lỡ lầm đến khó hiểu
Những vụng về, sơ xuất, trái ý nhau
Những nghi ngờ, thoi thóp trái tim đau
Xin giữ trọn sắt son niềm chung thủy...
(Nhiệm lạ - Linh mục thi sĩ CUNG CHI)
Trong thời đầu của cuộc tình yêu nhau, vợ chồng tung tăng tay trong tay, nồng nàn chung lưng đấu cật... nhất nhất công kia việc nọ cùng nhau hoàn thành trôi chảy một cách tự nhiên trong phấn chấn yêu thương thắm thiết... đúng là "thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn", hầu như không cần phải vạch rõ đâu là bổn phận vợ, đâu là bổn phận chồng... Nhưng nếu bổn phận là một qui định mang tính câu thúc bó buộc, trong thực tế phức tạp của đời sống lứa đôi, quan điểm vợ chồng phải có những bổn phận đối với nhau trước sau đều được cả đôi vợ chồng cùng khẳng định và chấp hành.
Có một sưu tập vào khoảng năm 1714 tổng kết tới khoảng 56 trường hợp đặt vấn đề "bãi trừ bổn phận vợ chồng", theo đó yêu cầu bãi trừ của bên phía nữ nhiều hơn một cách đáng kể của bên phía nam.
Trong việc chăn gối, khi vợ hay chồng, người này từ khước ý muốn "ân ái" của người kia, sự từ khước này có thể tạo nên nguyên nhân cho các cuộc "giải quyết sinh lý" ngoài hôn nhân, hoặc có thể là nguyên cớ của các cuộc ngoại tình thầm lén. Đàng khác, những "bê tha" đó, có thể được vợ hay chồng, người này nại ra để hù dọa hầu cưỡng buộc người kia phải thỏa mãn những cơn nhục dục của mình.
3. Còn Ta, Ta bảo các ngươi:
phàm ai nhìn người nữ để thỏa lòng dục thì đã ngoại tình với nó trong lòng (Mt 5128).
Vì thế, ý niệm về bổn phận vợ chồng cần phải được triển khai sâu rộng một cách thích đáng,
Biết rằng trong bất cứ cuộc sống chung nào giữa những con người với nhau, người ta phải cùng nhau thỏa thuận đề ra những qui định có tính cách câu thúc, bó buộc, ngay cả đi đến ấn định những trừng phạt hay chế tài nếu vi phạm... bởi vì, trong tương quan "bổn phận và quyền lợi", nếu không có những qui định như vậy thì ai ai cũng có thể nại nhiều lý do để miễn trừ cho mình, chỉ muốn có quyền lợi mà không muốn có bổn phận. Trong tương quan vợ chồng, những lý do để miễn trừ bổn phận thường là: mệt mỏi, bận bịu việc nhà tràn ngập, con cái đau ốm, ngăn trở nghiệp vụ... hoặc đơn giản hơn là: biếng nhác, dửng dưng tình cảm, nhàm chán yêu đương... Sự ý thức nghiêm chỉnh bổn phận vợ chồng, sự thông hiểu sâu sắc nghĩa vụ phu thê sẽ tránh cho đời sống lứa đôi khỏi rơi vào tình trạng nguội lạnh u buồn, khô héo tàn tạ vì thiếu hẳn tình yêu đúng nghĩa.
Bao ngang trái, khác biệt, vẻ kỳ dị
Sẽ long lanh biến sắc trong hy sinh
Giữa bao dung lượng thứ quên thân mình
Hoa yêu đương không nếm mùi tàn tạ...
(Nhiệm lạ - Linh mục thi sĩ CUNG CHI)
Như việc ươm trồng vun tưới một cây ăn trái, nghĩa vụ vợ chồng đối với nhau thuộc về cả hai đương sự phải quan tâm gầy dựng thực hiện. Tuy nhiên, người vợ cần được cảm thấu nghĩa vụ này một cách nhạy bén hơn, do bởi:
- người nữ dễ có khuynh hướng tránh việc "ân ái thể xác" hơn người nam, thậm chí đôi khi còn giữ quan niệm rằng sự "kiêng khem" này làm cho đời sống lứa đôi được thanh khiết hơn. Như đã biết, ý niệm ảo tưởng lụn bại xa xưa về sự thanh khiết này đã được đề ra để từ chối kế đồ yêu thương trong mầu nhiệm "nhập thể".
- người nữ thường quan niệm khinh xuất một cách tai hại về tâm sinh lý phái nam, khiến họ không biết rằng nhu cầu "hợp hoan thể xác" (cùng trở nên một xương một thịt) nơi người nam là nhu cầu không phải trước tiên để "giải quyết sinh lý", nhưng là một nhu cầu trào vọt thúc đẩy nơi người chồng thông tỏ tình yêu cho người vợ đồng lúc với ước muốn sôi sục được cảm biết một cách thuyết phục tình yêu thủy chung như nhất của vợ mình dành cho mình.
Nghĩa vụ phu thê, nghĩa vụ diễm phúc này nhắc nhở đôi bên vợ chồng, thực hữu của người này (tất cả sinh mệnh, toàn diện xác hồn) là quà tặng cho người kia, và quà tặng này bao hàm tất cả thân xác hiện sinh cụ thể như được diễn tả qua thuật ngữ "trao thân gửi phận". Nghĩa vụ vợ chồng trao tặng thân xác cho nhau nhắc nhở về một tình yêu vợ chồng hiện thực trong xác phàm, chứ không phải là mộng mị trên mây trên gió, một thứ tình yêu ảo tưởng trong mơ tưởng thần tiên huyền hoặc. Nghĩa vụ vợ chồng trong việc ái ân thể xác như vậy cảnh tỉnh đôi bên đương sự về những gì làm cho họ dửng dưng xem nhẹ những đòi hỏi tương giao phái tính trọn vẹn và đặc biệt trong chiều kích xác thể, về những gì làm cho họ lơ là quên lãng những đòi hỏi ứng đáp yêu đương thầm kín phòng the vợ chồng mà bản chất sinh động mang một tầm quan trọng nhiều khi có tính cách quyết định cho sự bền vững tình yêu đôi lứa, bền vững hôn nhân.
Vậy là, nghĩa vụ vợ chồng có thiên chức là một giới luật tình yêu, một lệnh truyền yêu thương; không phải là sự thống trị của người này trên người kia để nại vào những yêu sách "quyền lợi, bổn phận"...
Đã có những thời và những nơi mà người ta quan niệm mục đích hôn nhân trước tiên là sinh đẻ đồng thời là giáo dục con cái, hoặc với những chủ ý khác phụ theo như là sự nương tựa vợ chồng, giải pháp hộ lý tình dục...
Thật khó nói về ý nghĩa đích thật của hôn nhân khi đứng trước những trường hợp người ta cưới vợ lấy chồng chỉ nhằm mục đích giải quyết sinh lý, xem hôn nhân như là khuôn khổ trong đó tha hồ tự do giải phóng nhục dục đè nén, giải tỏa ức chế cho cách riêng những người có tư chất sung mãn tình dục.
Phải nhận thức rõ ràng và dứt khoát rằng hôn nhân được tạo dựng nên không phải để làm dịu những cơn khát dục tình hay để thỏa mãn những mê đắm khoái lạc dục vọng.
4. Nhược bằng họ không tiết dục
được, họ hãy kết hôn. Vì thà kết hôn còn hơn là bị thiêu... (Mieux vaut se marier que de brûler de désir... (1Cr 7,9)
Lời khuyên này của thánh Phaolô tông đồ về hôn nhân đã có thể bị hiểu sai, khiến cách riêng những người trẻ khó kềm hãm ham muốn nhục dục của mình có thể vịn vào lời khuyên đó mà chủ định hôn nhân là giải pháp ổn thỏa cho sự buông tuồng dục vọng của họ.
Nam cũng như nữ, ở độc thân cũng như sống kết bạn hôn nhân, mọi người đều được mời gọi sống nhân đức khiết tịnh. Về vấn đề này, phải nhận rằng những người sống kết bạn hôn nhân chịu cám dỗ nhiều hơn so với những người sống độc thân (như các vị linh mục, tu sĩ nam nữ...), bởi một lẽ nhục thể vợ chồng như "mỡ trước miệng mèo" đối với nhau, và nhất là hôn nhân là môi trường thuận lợi cho mọi ham muốn thể hiện ái ân qua mọi hình thái biến ảo hay cuồng si mê loạn. Đối với những người sống độc thân, với một nếp sống không phóng đãng lang chạ, tất nhiên họ không bị những cám dỗ dục vọng phái tính trong một mức độ giống như những người sống bậc vợ chồng. Trải nghiệm này hiện thực cho cả những người sống đời tu trì độc thân, khi họ nhận ra rằng mọi buổi tối trên giường ngủ của họ không có một người nam hoặc người nữ nào. Lẽ đương nhiên phải khẳng định là đối với những người sống bậc độc thân, sự giữ gìn nhân đức khiết tịnh đòi hỏi cả một cuộc chiến đấu, nhất là trong thời đại duy vật hưởng thụ ngày nay.
Hôn nhân có phải là giải pháp ổn thỏa, thuận tình, hợp lý, định khuôn trật tự... đối chiếu với một bối cảnh tự do giao tiếp nam nữ, phóng đãng tràn lan, buông tuồng vô hạn? có phải là phòng the cho sự mê đắm tà dâm? phải hiểu thế nào về câu "Vì thà kết hôn còn hơn là bị thiêu đốt bởi mê dục..." (Mieux vaut se marier que de brûler de désir...).
Bản chất của hôn nhân đã từng được thánh Phaolô rao giảng: "Hãy tùng phục nhau trong sự kính sợ Đức Kitô: Vợ hãy phục tùng chồng, như thể đối với Chúa… Chồng hãy yêu mến vợ, cũng như Đức Kitô đã yêu mến Hội thánh…
5. Cũng vậy,
chồng phải yêu mến vợ mình, như chính thân mình. Mà yêu mến vợ thì khác gì là yêu mến mình!. Quả có ai bao giờ lại đi ghét xác thịt mình, trái lại người ta dưỡng nuôi mặc ấm, cũng như Đức Kitô xử với Hội thánh, vì là chi thể của Thân Mình Ngài" (Ep 5, 21)
Nhưng đứng trước tình trạng bệnh hoạn suy vong của con người đắm đuối ngụp lặn trong đồi trụy khoái lạc dục vọng xác thịt, từ góc nhìn suy ngắm mầu nhiệm cứu độ, thánh Phaolô quảng diễn hôn nhân đem lại một phương thức trị liệu cho sự mê đắm nhục dục nơi thân phận con người phàm tục. Trải nghiệm đó xuất phát từ nhận thức sự mê đắm nhục dục mang dấu ấn của nguyên tội, tội lụy tổ truyền theo đó con người mưu tìm hạnh phúc trong sự lạm dụng biến suy bản chất cũng như cứu cánh của tạo thành bằng những nhân tố trần gian như là chiếm đoạt, thống trị, óc hưởng thụ, chủ thuyết tự hữu tự tại, tư lợi vị kỷ... những nhân tố này không do Thiên Chúa tạo nên, như thánh Gioan đã vạch rõ trong thư: ‘Vì mọi sự có trong thế gian: đam mê của xác thịt, đam mê của con mắt, và kiêu hãnh của của cải... các điều ấy không do tự Cha, nhưng là do tự thế gian mà có’ (1Ga 2,16).
Trong thân phận phàm nhân, kể từ thời nguyên tội, mọi người đều bị lụy vào sự mê đắm sắc dục này, đặc biệt trong hôn nhân vốn có thể được biến thành một môi trường tốt cho cám dỗ mê đắm hưởng thụ sắc dục. Chính vì vậy, bí tích hôn nhân là một đặc ân tăng cường sức mạnh cho những người có ơn gọi sống đời vợ chồng khả dĩ chống lại những cám dỗ mê dục của xác thịt. Với đặc ân có tác dụng trị liệu này, bí tích hôn nhân mang hiệu lực của phương thức trị liệu, cứu chữa người nam và người nữ bị thương tổn bởi nguyên tội, diệt trừ tận gốc mầm mống mê đắm nhục dục. Đặc ân trị liệu này trong bí tích hôn nhân, nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, đem lại cường tráng và tân tạo tận thâm sâu cốt lõi cho những người dấn thân vào cuộc sống hôn nhân vợ chồng; với đặc ân trị liệu đó, bí tích hôn nhân mời gọi họ chân thành hiến thân cho nhau, một sự hiến tặng trọn vẹn hiện sinh bao gồm trọn vẹn chiều kích xác thể.
Từ huyền thoại về nhà hiền triết Socrate xứ Hy Lạp nong nả ngày đêm trên khắp các nẻo đường tra hỏi truy tìm chân lý, có những đôi vợ chồng không tránh khỏi nhiều vấn nạn khắc khoải:
"Yêu cho biết sao đêm dài... (Ảo ảnh - Lời và nhạc Y Vân)" Ý thức bàng hoàng về một tình yêu ảo ảnh, lời thảng thốt não nùng về một tình yêu không có thật, sau chuỗi ngày "tận hưởng bên nhau" tất cả cơ hồ chỉ là vô thường, chỉ là hư vô…
"Yêu rồi tình yêu sao chua cay, men nào bằng men thương đau đây… cuộc tình đã lỡ với bao nhiêu thương đau, hết rồi thôi đã không còn gì thật rồi!…" (Tình lỡ - Lời và nhạc Thanh Bình) Trải nghiệm đớn đau tuyệt vọng não nề vào cuối đường một duyên tình lỡ làng, không phải thiên duyên tiền định nhưng bi đát thay chính là một xe duyên lầm lỡ…
Thế nào là một tình yêu thật? Biết bao những tra hỏi vật vã "khi vò chín khúc, khi chau đôi mày" trổ sinh trên những khúc đường khuya của đời sống hôn nhân!. Tình là giây oan? Tu là cội phúc ??? Trong cuộc sống lứa đôi cụ thể và hiện thực, đâu là những chuẩn mực minh bạch, những khuôn vàng thước ngọc sáng tỏ hầu giúp cho vợ chồng ái ân nhất cử nhất động đúng cách và những bước đi yêu đương đúng đường đúng hướng.
Nhu cầu về một "định chuẩn" để an lòng vì được có tính chính đáng hợp phép, để không bị bối rối lương tâm vì được hợp lệ hợp thức. Khi có những chuẩn mực minh bạch và khách quan, vợ chồng được an tâm khi chấp hành theo đúng những qui định chuẩn mực đó. Khi vượt lằn qui định đã vạch, vợ chồng sẽ bị u uẩn dằn vặt lương tâm hay sẽ bị ê chề mặc cảm tội lỗi. Thật khó chừng nào để nhào nặn ra những "định chuẩn" ấy, những chuẩn mực ứng xử trong tương quan vợ chồng!!!.
Trong khuôn khổ hôn nhân vợ chồng, nếu có thể nhào nặn ra những "định chuẩn" nào đó thì không phải là tất cả những "định chuẩn" ấy đều thích hợp cho tất cả mọi đôi hôn nhân. Ngay trong một đôi hôn nhân, khó lòng có những chuẩn mực luôn luôn phù hợp cho cả vợ cả chồng bởi một lẽ giản dị rằng mỗi người là một thực thể độc đáo riêng biệt, không chung một nền đào tạo, không luôn luôn đồng một nhận thức, khác nhau cả về cảm xúc lẫn tính tình... vì thế, có thể chuẩn mực này thuận cho người này mà lại nghịch cho người kia. Đó là chưa nói đến, không phải điều gì đó "được phép làm" thì luôn luôn là hợp tình hợp cảnh.
Vậy thì, một chuẩn mực khả dĩ có cơ may thành hình nhất thiết phải có bản chất là lòng tế nhị yêu thương nhạy bén ân cần, theo đó khởi phát đòi hỏi người này có ý chí và thành tâm thiện ý cố gắng khớp theo hiện trạng định chuẩn riêng biệt của người kia, chứ không phải chỉ là vợ chồng đồng khớp theo một "chuẩn mực" định sẵn ở ngoài sự đồng thuận của cả hai.
Hơn nữa, về vấn đề cảm tính trong tương giao thân mật tính dục vợ chồng, có một khác biệt giữa nam và nữ. Nơi người nữ vốn có cảm ứng nhục thể đặc biệt tinh tế, ít đậm mầu "dục tính xác thể", người nữ có thể cảm thấy ngượng ngùng, khó xử, thậm chí có thái độ khinh nhờn hay cự tuyệt đối với một số cử động thân mật phòng the. Ngược lại, phía người nam, xúc cảm mạnh hơn nhiều về phương diện "nhục dục", có thể tỏ ra u buồn nhụt hứng, phẫn chí, bất mãn vì không được ứng đáp trong động thái ái ân đúng như mong muốn.
Dẫu sao, cuối cùng ra, cần thiết phải có một nguyên tắc ứng xử chung cho đôi bên vợ chồng. Một gợi ý của linh mục Finet được diễn tả như sau:
"Tất cả mọi tác nhân xa hay gần giúp cho sự tương giao nhục thể vợ chồng đích thực “nên một thân xác” thì mang tính tốt lành, chính đáng nên cần được triển khai và thực hiện. Tất cả mọi tác nhân xa hay gần khiến qui về sự hưởng thụ ích kỷ hay sự thống trị vợ chồng người này trên người kia là nguy hại nên cần phải tiên liệu và xa tránh"
Nguyên tắc này giả thiết vợ chồng không những phải có lòng chân thành mà đồng thời phải có khả năng sáng suốt biện biệt tốt xấu, ý chí và nhẫn nại, lập trường hành động cương quyết suốt trong công cuộc chiến đấu xây dựng đời sống hôn nhân theo cứu cánh tạo dựng của Thiên-Chúa-Tình-Yêu.
Hôn nhân, một cuộc tương giao vợ chồng toàn diện, trọn vẹn, tiến đến hoàn hảo...
Những tác nhân xa: một cử chỉ âu yếm thường nhật, một bó hoa, một động tác phụ giúp, một biểu lộ quan tâm, một quà tặng... tất cả được thi triển với tất cả tấm lòng chân thành yêu thương...
Những tác nhân gần: nụ hôn, vòng tay ôm ấp, vuốt ve, khúc dạo đầu khơi dẫn cảm xúc hợp hoan ái ân...
Dẫn vào càng lúc càng sâu vườn tình huyền hoặc đầy hoa thơm cỏ lạ, mỗi bước đi là một định hướng cẩn trọng lần theo lối đi vào tình yêu chân chính quang tỏa ánh sáng của Chân Thiện Mỹ.
6. Người đã làm ra tự một người
mọi dân thiên hạ để họ lan khắp mặt đất mà ở. Người đã định thời tiết phân minh và cương giới nơi chốn họ ở, ngõ hầu họ tìm kiếm Thiên Chúa và họa may rờ rẫm sao mà gặp được Người (Cv 17,26).
Chân Thiện Mỹ của tương giao vợ chồng, trong tương giao đích thật này, vợ chồng cảm nhận một niềm hoan lạc nhục thể khôn tả, một niềm vui sướng thanh thỏa đặc biệt. Nhưng những cảm thú sung sướng ấy không phải là mục đích, chúng chỉ là hoa quả của hành động tương giao. Về vấn đề này, cần phân biệt rằng tiến đến tương giao trọn vẹn nên một trong thân xác (maximum de communion) không phải là tìm kiếm tột đỉnh của cảm thú sung sướng (maximum de plaisir). Có những động thái "hiến thân" (don des corps) không đem lại sự "nên một thân xác" (communion), bởi vì kinh nghiệm chứng nhận rằng có thể có những khoái cảm cao độ mà hoàn toàn vắng bóng sự sung mãn của "tương giao vợ chồng nên một trong thân xác". Chính sự vợ chồng "nên một trong thân xác" mới là mục đích của hành động tương giao.
Chân Thiện Mỹ của tương giao vợ chồng, với tương giao đích thật này, vợ chồng hòa hợp nên một trong tình thương, phục tùng nhau chứ không phải thống trị nhau (biết rằng óc thống trị có thể biểu lộ hay ẩn nấp qua mọi hình thái tinh tế không dễ phát hiện)
Tất cả những tác nhân xa hay gần có những tác dụng gì?
Những tác nhân bất hảo gây nên: thờ ơ lạnh nhạt, do dự, ứng đáp lạc điệu, hiệp thông trắc trở, thủ thế chống hòa đồng... tất cả những thái độ tiêu cực trong sự hiến thân trọn vẹn cho nhau (nảy sinh từ đủ mọi thứ nguyên do, tỷ dụ một vết thương lòng chỉ bởi một sự hiểu lầm nhau).
Những tác nhân tốt lành làm phát sinh: niềm tin tưởng tín thác, sự ứng đáp thuận nhịp hoàn hảo, niềm hiệp nhất nồng nàn tận đáy tim lòng.
Người nam và người nữ, là những con người không phải là những “con vật”, "đồ vật", không phải là những "bộ máy tự động vô hồn"... Những câu hỏi như:
Phải làm gì để tôn trọng phẩm giá là một con người trong việc tỏ tình yêu với nhau?
Phải làm sao trước sự ngỏ ý muốn "ân ái" của người vợ hay người chồng?
Nên làm thế nào để cuộc ái ân vợ chồng được toại nguyện, khi phải tính tới những yếu tố chi phối một cách khác nhau trên người nam và người nữ như: thời tiết, khung cảnh không gian, những bức xúc đời thường, thể trạng cá biệt (kinh nguyệt phụ nữ), căng thẳng tâm sinh lý, mệt nhọc, trầm cảm...
Làm thế nào để diễn tả sự "tự ý trao thân hoàn toàn" chứ không phải chỉ là sự "cho thuê mướn tấm thân"?
Làm thế nào để tránh bị nhàm chán vô vị trong việc chăn gối vợ chồng?
Hướng về một tương giao hôn nhân đích thật và toàn vẹn, một lô phức tạp những câu hỏi day dứt đặt ra thường xuyên trong cuộc sống giữa vợ chồng với nhau đẩy tới ý thức về sự hiện diện thúc bách của bao nhiêu là yêu sách có bản chất bó buộc chứ không phải nhiệm ý: yêu sách sống chân thực tình yêu, yêu sách cư xử bác ái đối với nhau trước hiện trạng thực hữu riêng biệt của mỗi bên, vợ hay chồng...
Từ đầu tới cuối trong suốt toàn bộ quá trình đón nhận nhau trong tình yêu hôn nhân, đó là công việc biện phân sáng suốt từng cử chỉ lời nói, công việc chỉnh hướng những gì sai lạc, công việc "tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết" để cảm thông nhau trong tận sâu thẳm của những nỗi niềm tâm sự, công việc dắt nhau lên đỉnh cao Chân Thiện Mỹ... đó là cả một công trình tạo dựng dài lâu vô thời hạn có thể hàm chứa những giai đoạn vui hay buồn, lúc thăng lúc trầm, lúc thành lúc bại... Người nam hay người nữ đều giống như một rừng hoang mênh mông huyền bí, cuộc tình vợ chồng đi vào đời nhau như dấn bước vào một cuộc phiêu lưu vừa tìm kiếm, khám phá trong tin yêu, vừa xây dựng kiến tạo trong hy vọng. Mỗi một lần vợ chồng "kết hiệp nên một thân xác" với nhau, sự kết hiệp này thể hiện thành niềm hoan lạc của tình yêu vợ chồng chân thực và trọn vẹn. Lòng mến chân thành giữa vợ và chồng là môi giới tượng hình về tình yêu trong mầu nhiệm hiệp nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nói khác, tình yêu hôn nhân chân thực bắt nối thông hiệp vào chiều kích yêu thương vô biên của Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu (Dieu est Amour).
"Đôi môi khi trao cho nụ hôn, là dấn theo tất cả tình yêu." (Les lèvres qui s'engagent pour un baiser, engagent tout l'amour. Linh mục văn sĩ Michel Quoist lột tả đầy ý nhị trọn hảo về tình yêu hôn nhân sinh động thiết tha với cả hồn cả xác).
Cúi lạy Chúa Nguồn Tình Thiêng nhiệm lạ
Giúp chúng con sống trọn nghĩa thương nhau
Luôn khắng khít như giao hứa ban đầu
Mỗi hơi thở thơm tho mầu duyên thắm.
(Nhiệm lạ - Linh mục thi sĩ CUNG CHI)
Chiêm ngắm dung nhan Chúa với hoạt động dào dạt của ân sủng Người trong thực tế muôn mặt của đời hôn nhân, bằng những vần thơ "thương ngàn thương" trong thi phẩm "Nhiệm lạ", linh mục thi sĩ Cung Chi mở hướng về góc nhìn tràn ngập tin yêu, thiết tha nguyện cầu và miệt mài hy vọng của nhiệm tích hôn nhân trong đời sống vợ chồng, nhiệm tích nâng cao phẩm giá cao trọng người nam người nữ trong tương giao Tình Yêu Thật.
LÀM SAO ĐỂ VỢ CHỒNG SỐNG HẠNH PHÚC?
Của ÔB Phan Hữu Lộc
"Anh chị là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, những người thánh thiện và yêu thương. Anh chị hãy mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hòa, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau và hãy tha thứ cho nhau. Như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh chị, anh chị cũng hảy tha thứ cho nhau. Trên hết mọi sự, anh chị hãy có đức yêu thương, đó là mối giây ràng buộc mọi điều toàn thiện…" (1Cr 6,13-15).
Con người ở trần gian ai cũng đều có giới hạn, không ai vẹn toàn về bất cứ mặt nào-thân xác, tính tình, trí tuệ, lòng đạo đức... nên đời sống vợ chồng (nói riêng) cần nhận định và chấp nhận sự thể ấy đối với mình cũng như đối với bạn đường (vợ hay chồng). (Phần I).
Nhận định, chấp nhận rồi cần phải tha thứ cho mình và cho bạn đường về sự giới hạn đó, để sự trao thân cho nhau được đầy đủ, không chút mặc cảm và sự đón nhận trọn vẹn không chút dè dặt. (Phần II).
Vợ chồng trao thân cho nhau vì con người có hồn nhưng cũng còn có thân xác. Xác thịt đóng vai trò quyết định trong sự cho và nhận để truyền sinh và giúp nhau kết hiệp--tuy tương đối--, để đi tới sự kết hiệp toàn diện, sung mãn trong Thiên Chúa vào ngày sau. Riêng lối sống tu sĩ độc thân vì Nước Trời thì lại muốn kết hiệp trực tiếp với Thiên Chúa ngay đời này, tuy rằng cũng còn thiếu sót, và sẽ đạt được sự kết hiệp sung mãn trong Chúa vào ngày cánh chung!. (Phần III).
Đó là ba Phần trình bày thiết thực dưới đây về đời sống vợ chồng theo đường lối Giáo Hội để vợ chồng được hạnh phúc tương đối qua sự kết hiệp trong Chúa ở đời này và tiến dần đến sự kết hiệp hạnh phúc tuyệt đối trong Chúa sau khi sống lại!
1. Nhân vô thập toàn
Hôn nhân là một lối sống mà ta không thể không cảm nghiệm về giới hạn của mình và người bạn đường (vợ hay chồng). Giới hạn về thân xác của người yêu vì người đó không bao giờ trở thành con người lý tưởng. Giới hạn về tính tình bởi nhiều tính xấu và nhiều lệ thuộc vào sự giáo dục đã nhận được, về ảnh hưởng của cuộc đời trước kia đã qua, về những vết thương tâm hồn đã chịu. Giới hạn về trí óc thông minh và cả đến về đời sống đạo đức nữa...
Giới hạn nơi chính mình và nơi bạn đường cho nên trước hết là phải chấp nhận giới hạn của nhau... Hơn nữa, nhiều khi còn phải yêu chuộng giới hạn đó nữa. Cái giới hạn của người mình yêu trở thành người yêu duy nhất (unique), người-yêu-của-mình! Lời khen đẹp ý người yêu nhất: "Anh chỉ yêu có một mình em!" hoặc: "Em không yêu ai ngoài anh!"
Sau đó, là phải biết tha thứ cho nhau. Trong hôn nhân, ai có ý tưởng hay có ý muốn biến đổi vợ hay chồng theo ý muốn mình là điều mộng mơ. Người vợ hay chồng là con người đó, đang sống cùng ta với những hạn hẹp của họ mà ta phải yêu chuộng, chứ không phải là con người lý tưởng ta mong chờ. Đừng "đứng núi này trông núi nọ". Bao gia đình tan vỡ cũng chỉ vì vợ hay chồng, không nhận chân sự thật về cái hay cũng như cái dở (giới hạn) của bạn đường, mà chỉ mộng mơ về một con người hoàn hảo như lòng mình ước ao, mong chờ, hay như người mẫu quảng cáo trên báo chí, tivi!
Nhưng giới hạn không thể tránh được đó, (nhân vô thập toàn), thường ban đầu chưa thấy lộ diện, nhưng dần dà với thời gian chung sống, nó sẽ xuất đầu lộ diện, tương tợ như khi ta nói: "Cây kim ẩn trong bọc, lâu ngày rồi cũng lòi ra"! Một vài đôi tình nhân, ban đầu cũng đã cố gắng nói cho nhau biết về những khuyết điểm của mình, nhưng vì đang trong thời kỳ yêu đương, họ khó tránh khỏi những cái nhìn lệch lạc. Khi yêu, ta thường chỉ nhìn thấy khía cạnh tốt đẹp của người yêu ("yêu ai yêu cả đường đi lối về"), cha mẹ hay bạn hữu có nhận xét khác, có khuyên răn gì cũng khó lòng chấp nhận.
Nếu có nhận những khiếm khuyết của người yêu, thì lúc con tim đã bị mũi tên tình ái bắn vào, đang tràn ngập trong bể ái tình, người ta thấy có thể bỏ qua, hay cho rằng thiếu sót đó không gì là quan trọng lắm: nhịn nhau được. Nhưng chỉ vài tháng, hay một vài năm, sau ngày về chung sống bên nhau, khi tình yêu mặn nồng nguội lạnh dần, người ta mới thấy những khiếm khuyết đó hiện ra rõ nét, và làm ta khó chịu, khó chấp nhận. Nhất là về vết thương tình cảm, sinh lý hay đạo hạnh chịu từ nhỏ hay thiếu thời mà chỉ hiện rõ sau nhiều năm chung sống mà nhiều lần, nạn nhân không hẳn là khi nào cũng nhớ tới được. Nhận định về giới hạn đó có thể làm cho đời sống vợ chồng rạn nứt, đôi khi dẫn đến tan rã. Bấy giờ ta thường nghe nói: "Anh đó đâu phải là người tôi muốn lấy!" hoặc "Biết thế tôi đâu có rước cô ả về!" Dẫu vậy, đó lại là không ai khác!...
Cho nên điều khôn ngoan và thiết thực cho hai người đính hôn có lẽ là nên cố gắng nói lên cho nhau biết những yếu kém và những vết thương lòng mà mình nhớ được và được xem là đúng sự thật. Nhiều người lại không dám tỏ ra, sợ rằng người kia biết được sự thật, sẽ không còn kính nể mình.
Lời thưa chấp nhận lấy nhau, CÓ, lúc cưới hỏi không bao giờ là lời đáp một cách trọn vẹn và thấu hiểu tường tận việc mình làm. Vả lại, lời đáp yêu đương không bao giờ có thể tinh suốt được trăm phần trăm. Điều đó giả thiết là phải có khả năng nói lên hết với nhau và phải biết về mình một cách đầy đủ; đó lại là điều không thể dễ có được. Nhưng đó vừa là cái hiểm nguy của lời thề yêu nhau trong hôn nhân và lại làm cho hôn nhân trở nên cao cả. Cho nên trước những khó khăn khó tránh khỏi đó, mà chỉ dựa vào sức của nhân trần thì bước phiêu lưu vào hôn nhân quả là táo bạo! Một vị linh mục nói với một chàng trai, tự cho mình là không tin Chúa, khi đến gặp ngài theo lời người vợ (đạo đức) yêu cầu. Ngài nói đại ý: Hôn nhân là một cuộc phiêu lưu đầy gian nan trở ngại, khó thành công, không thể đạt đựơc nếu không có Thiên Chúa cùng đồng hành. Bí tích Hôn nhân sẽ giúp đôi vợ chồng tránh được bao tai hại đó, nếu biết dựa vào Chúa, và đưa Chúa vào đời sống sau này của đôi bạn.
Hôn nhân quả thực tỏ hiện cho ta thấy sự mỏng dòn và giới hạn của ta. Người ta không thể chơi mãi cái trò "bịt mắt bắt dê" với người vợ hay chồng luôn sống với ta trong những chi tiết nhỏ nhặt hay trong những chuyện thầm kín. Theo chiều hướng đó, hôn nhân là một kinh nghiệm đáng sợ và đáng quý về sự chân thực của chính mình. Và bởi vậy đó là một trường dạy về sự khiêm nhừơng. Sống đụng chạm với nhau thường ngày, ta không thể che đậy hay giả dạng được và những gì ta muốn che đậy về lỗi lầm hay bất toàn của mình một ngày kia sẽ lần lượt xuất đầu lộ diện. Điều đó cũng áp dụng cho sự hữu hạn về thân xác, cũng như hữu hạn về tính tình... Người ta có thể làm bộ mặt "đi ăn cưới" khi đến thăm gia đình mẹ vợ, nhưng người ta không thể mãi mãi làm như thế được.
Cũng như giới hạn về sự thông minh: người ta có thể nổi danh ngoài xã hội, nhưng lại tỏ ra thật tệ trong cảnh huống thường nhật của sự sống vợ chồng; cũng như giới hạn về nền giáo dục: con người thô lỗ ẩn dưới vẻ hào nhoáng bên ngoài thì chóng hay chầy sẽ lộ diện ra... Điều đó cũng đúng cho đời sống thiêng liêng: người ta thấy lối sống sốt sắng phi thường lúc làm lễ hỏi, lúc tĩnh-tâm học lớp Dự bị hôn nhân, lúc đi hành hương..., nhưng người ta không thắng nổi đời sống mòn mỏi của đôi bạn sẽ làm cho người ta lộ ra sự khô khan nguội lạnh về lòng đạo đức. Hay nói cách khác, vợ hay chồng không thể "chơi trò hai mặt" mãi được!
Cho nên muốn có một đời sống vợ chồng đạo đức, điều đòi hỏi đầu tiên là biết chấp nhận những giới hạn đó. Không phải để vịn vào đó làm cớ, nhưng để nhìn biết những giới hạn đó là con người. Điều thứ hai là biết tha thứ cho chính mình, bằng cách phân biệt những gì mà không do lỗi mình làm với những gì do mình lười biếng, trì trệ làm cho những tật xấu ấy thêm khó sửa vì bén rễ sâu trong ta.
Và cũng cần biết chấp nhận khi thấy giới hạn nơi bạn đường, đừng mơ tưởng người đó là thần tượng, nhưng để yêu mến cách thiết thực. Bởi vì vợ hay chồng cũng còn nhiều thiếu sót và nhiều yếu đuối. Ta không thể vừa nói ta yêu mến họ, lại vừa từ chối những giới hạn của họ; tệ hơn nữa là những tật xấu mà ta hằng chống đối hàng ngày mà nghĩ rằng sẽ thay đổi một ngày kia. Nếu thế thì ta không thương người vợ hay chồng cụ thể đang sống với ta, mà mơ tưởng đến hoặc hy vọng một người yêu khác trong tưởng tượng và có lẽ cũng không hề có.
Nhưng nói thế không có nghĩa là cấm ta hy vọng một ngày nào đó, nhờ ơn Chúa, vợ hay chồng sẽ thay đổi tốt hơn; vì với Chúa mọi sự đều có thể được... Nhưng Hy Vọng đây không phải là hy vọng kẻ đó đổi thay để sau cùng trở nên người chồng hay vợ mà ta mài dũa mong chờ bấy lâu theo ý muốn của mình. Người ta thường nói: "Mình muốn kẻ khác thay đối, thì hãy bắt đầu thay đổi chính mình trước"!
2. Sự thứ tha, con đường hiến thân.
Bao lâu ta chưa tự tha thứ những giới hạn của mình cũng như những giới hạn của bạn đường, thì ta chưa đạt tới sự thật của việc trao thân. Và điều đó càng đúng khi ta nói đến sự giới hạn của thân xác. "Le corps révèle l’homme (Thân xác nói lên con người), như đức Gioan Phaolô II đã nhận định trong buổi triều yết ngày 14.11.79... Phương thức gãy gọn này chứa đựng tất cả những gì mà khoa học nhân thế sẽ nói đến về con người như là một cơ thể, về sự năng động của nó, về sinh lý học riêng biệt của nó v.v." Thân xác "nói" cho ta nghe, tỏ cho ta biết với tư cách là một bản vị, và ta nhận được thân xác ban cho không, để ta trao thân... Nhưng ta không thể chu toàn sự trao thân này của ta, nếu trước đó, không chấp nhận thân xác của mình. Và nhận nó như là nó. Và nó là nó, mới cho ta biết mình là ai. Trong hôn nhân, sự trao thân được diễn tả và thực hiện bởi sự trao hiến thân xác. Vì thế, trao thân cho nhau đòi hỏi trước tiên là mình đón nhận chính mình bởi thân xác của mình.
Điều đó đòi hỏi trước tiên là mình có thân xác, và đừng mơ tưởng mình là thần linh! Điều cám dỗ này thường thấy nhiều nơi phái nữ, dẫu rằng... Biết bao cặp vợ chồng bất hòa với nhau, vì họ không thực sự nhận mình có một tấm thân xác thịt. Người ta mơ tưởng đến một tình yêu không đòi hỏi xác thịt (platonique), mà là thiêng liêng, điều mà chỉ có thể thấy nơi sự kết hợp của những tâm hồn và những con tim; muốn một tình yêu "trong sạch", tìm cách lánh xa những gì thực sự là xác thịt. Đó là lý thuyết của phái Manichéenne đã gây bao điều lạc giáo mà Giáo Hội Công Giáo, không ngừng bác bỏ: phái Catharisme, Encratisme, Jansénisme...
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thực sự đã nói đi nói lại nhiều lần và rất rõ về vấn đề này, nhất là trong bài trình bày về lý do chính đáng thúc đẩy việc chọn sống độc thân và trong bài bình luận về những lời Chúa về việc ngoại tình trong lòng (Mt 5:27-28). Ngài hết sức nhấn mạnh như điên dại để loại trừ tận gốc rễ về mọi nghi ngờ có thể đè nặng trên giá trị của thân xác và về giới tính quả là đầy ý nghĩa. Quả thực, đây là cách để hiểu về chính con người và về ơn gọi của nó trong chương trình Thiên Chúa: "Một thái độ của bè phái Manichéen có thể dẫn đến sự "tiêu diệt" về thân xác, nếu không thật sự, ít nữa trong ý chí, đi đến việc chối bỏ giá trị của giới tính của con người, về nam tính và nữ tính, hoặc ít ra chỉ "cho phép" họ, trong giới hạn mà giới tính đáp lại sự đòi hỏi cần thiết để sinh con cái. Trái lại, đúng như lời Chúa giảng trên núi, nền luân lý Công Giáo có đặc điểm bởi sự biến đổi về lương tâm như thế và bởi những thái độ như thế của con người, về phái nam cũng như phái nữ, họ diễn tả và thực hiện giá trị của thân xác và của giới tính, theo ý hướng đầu tiên lúc Chúa tạo dựng, để cho nam nữ "kết hiệp hai người thành một" là nền tảng rất thâm sâu về luân lý và nền văn hóa của con người" (Bài thuyết trình 22.10.1980). Và ngài kết thúc buổi triều yết hôm đó với lời quả quyết dứt khoát và không chút dị nghĩa: "Lối hiểu biết và cách đánh giá về thân xác và giới tính của con người theo lạc giáo Manichéenne là hoàn toàn xa lạ với Phúc Âm"
Chấp nhận có một thân xác cũng đòi hỏi mình chấp nhận cái thân-xác-đó, thân xác được ban cho ta, với nhiều giới hạn và nhiều khuyết điểm, bởi chính thân xác đó mà Chúa ban cho để ta có thể trao thân. Có một hình thức tha-thứ được ban cho ta để ta có thể làm hòa với chính mình để ta có thể chấp nhận cái thân xác thực sự và thiết thực đó. Nếu không, thân xác được làm ra để trao ban trở nên một chướng ngại vật cho sự trao ban của chúng ta: ta không thể trao thân cho nhau mà không yêu mến cái thân xác đó...
Chúng ta còn phải chấp nhận thân xác của bạn đường để có thể nhận đầy đủ sự tận hiến của kẻ đó và bởi thế, tha thứ những giới hạn của họ về thân xác để nhìn thấy đó là phương thế mà kẻ đó dùng để trao thân... Nghĩa là thân xác của người vợ hay chồng có tốt hay xấu thì trao ban cái đó, và ta không thể đòi hỏi người vợ hay chồng phải có một thân xác trao ban như ta mong chờ. Chúng ta có lẽ không bao giờ nói hết những tai hại mà tranh ảnh, báo chí, màn hình nói về những thân xác có vẻ đẹp lý tưởng, hầu như toàn vẹn để ta luôn so sánh cái thân xác mình và của bạn đường với những gương mẫu đó---ít khi có lợi cho mình, làm cho ta luôn muốn được cái tấm thân đó và ước ao bạn đường cũng muốn được như thế. Đó là hai điều vô nghĩa! Điều thứ nhất là những tấm thân được trình bày trên tivi là những tấm thân không có thực sự - hình đã được sửa chữa, lường gạt, chế tạo... Những lý tưởng đó không có gì là thực sự mà chỉ là "tô son vẽ phấn" qua phương pháp máy móc điện ảnh, nhất là thời nay nghệ thuật sửa chữa bóng hình... là chuyện quá thông thường! Điều thứ hai là nếu ta cố gắng cho được như các hình mẫu sửa chữa đó thì chỉ làm cho hình ảnh thực của mình thành hị hợm. Mình không còn là mình nữa, Ngày nay, nghe đâu người ta đang có phong trào cấm đưa lên báo chí tài tử, người mẫu, sau khi đã gọt đẽo, thêm bớt cho thành con người có thân xác lý tưởng... để tránh cho những thiếu nữ quá ham chuộng hình hài gọt sửa đó khỏi trở thành những cô gái có thân hình quá gầy guộc có thể dẫn tới cái chết, như đã xảy ra.
Ngoài ra, ngày nay, một số phụ nữ có tấm thân no tròn, đẫy đà... không còn mặc cảm nữa, mà đã đứng lên đòi hỏi chị em cùng cảnh ngộ hãy sống thực, chấp nhận sự thực... để lấy lại giá trị đích thực của chính mình, qua những tổ chức thi Hoa Hậu phụ nữ "no tròn". Thân xác ta làm cho ta là ta, cũng như tâm hồn ta cũng vậy. Con người ta là thân xác này và tâm hồn này.
Nói vậy phải chăng là dẹp mọi cố gắng làm cho thân xác ta có giá trị thêm lên, và gạt bỏ mọi cố gắng để sửa chữa những thiếu sót của mình? Dĩ nhiên là không! Ta càng không phải là ta nếu ta ăn mặc lôi thôi, không sửa soạn! Những điều đó phải làm một cách hợp lý và khôn khéo... và đôi khi với chút hài hước! Tất cả những gì làm cho ta dễ nhìn hơn là điều tốt: tô son, đánh phấn, kẻ đậm thêm lông mày, khoác chiếc áo may cắt vừa người làm giảm đi chỗ béo mập, đeo cặp kính vừa mắt làm tăng thêm vẻ đẹp... tất cả những điều đó là lành mạnh, làm cho ta thêm yêu mến tấm thân của ta được ban cho ta để ta tận hiến cho nhau. Và đó cũng là cách thức để ta nhìn tấm thân của bạn đường và yêu thích tấm thân đó. Người ta còn đi đến chỗ yêu thích những "gồ ghề" của tấm thân nữa là khác: như là một phát giác, một tang chứng về con người đó, bởi vì đó là của kẻ đó, và nó nói lên con người đó là "độc nhất", là vợ mình hay chồng mình. Nhìn như thế thì không thể chê vợ xấu, hay chồng già mà chạy đi tìm một tấm thân khác, trẻ hơn, hấp dẫn hơn, lực lượng hơn, vì tấm thân đó, dù hấp dẫn đến đâu, cũng không phải là tấm-thân-chồng-mình (hay vợ mình) mà mình đã nhận trước mặt Chúa để tận hiến cho nhau. Cho nên câu thề hứa kết hôn trước mặt Chúa có nghĩa rộng lớn như sau: "Anh (em) hứa sống với em (anh) lúc vui cũng như lúc buồn, lúc trẻ cũng như lúc già..., lúc khỏe cũng như lúc đau yếu, lúc giàu cũng như lúc nghèo..." Và đó là dấu chứng đích thực của tình yêu trưởng thành!
Ngoài người yêu mình ra, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, đi tìm "món ngon của lạ..." chỉ là tình dục, sự trao thân cho nhau chỉ là "le contact de deux épidermes" (hai làn da dập lên nhau) nói theo tây phương, mà khó dịch!
Phải thường xuyên tha thứ cho thân xác mình để yêu thương nó hơn để giúp nó tận hiến cho ta hơn, và sự tha thứ thân xác của bạn đường để họ dễ đón nhận hơn... Điều này phải làm vào bất kỳ tuổi nào và cái nhìn này cần được nuôi dưỡng dưới cái nhìn của Chúa. Sự giáo hóa này của cái nhìn là sự cần thiết cho tình yêu, vì tình yêu đó giúp ta nhìn người yêu như một ơn ban cho hoặc một tận hiến. Những vết nhăn trên thân xác người yêu vì sanh nở để lại, sẽ không xem đó như là một điều chê trách, nhưng là một điều nói lên cho một ơn huệ có ý nghĩa: vết nhăn trên gương mặt người vợ không phải là để gợi nhớ lại ước ao thời trẻ tuổi mà lại là dịp để ca tụng một cuộc đời hy sinh cho chồng con, nếu nói được thế.
Đôi bạn như thế sẽ dần dà xem thân xác của nhau, không dựa vào hình trên gương phản chiếu, mà chỉ qua cặp mắt của bạn đường chiêm ngắm vẻ đẹp độc nhất không tìm đâu ra được như thế, hoặc chỉ có riêng vợ hay chồng nhìn thấy được mà thôi. Chính cái nhìn của người vợ hay chồng để nói lên cái đẹp của hai người, không phải cái tâm tình mà ta có thể có phù hợp hay không đối với chuẩn mực của sự đẹp.
Cái gương soi của đôi bạn chính là con mắt nhìn của người kia. Chỉ có người chồng có thể nói với người vợ (và ngược lại) những lời trong Nhã Ca: I: 15-16)
- Nàng đẹp quá, Bạn-tình ơi, đẹp quá !
Đôi mắt nàng là một cặp bồ câu.
- Người yêu hỡi, anh tuấn tú làm sao !
Giường chúng ta là cánh đồng xanh ngát.
Cái nhìn qua lại để tỏ hiện cái đẹp độc nhất của bạn tình là kho tàng lớn lao của đôi trái tim tình yêu của họ, là mái ấm thánh thiêng và bí quyết của sự thầm kín của họ và sự hiến thân cho nhau.
3. Thứ tha và kết hiệp
Chúng ta được tạo dựng để sống đời sau vĩnh cửu. Đó là điều ta tuyên xưng lúc đọc Kinh Tin Kính: "Tôi tin có sự sống đời đời...", niềm hy vọng của người tín hữu do đức tin đảm bảo một cách chắc chắn. Đối với ai có ơn gọi sống đời hôn nhân thì đó là con đường chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh cửu là điểm tối hậu của nhân loại. Trạng thái sống lại đó là gì? Là sự thần- thánh- hóa (divinisation), nền tảng của cuộc sống nhân loại, theo lời đức Gioan Phaolô II đã nói trong buổi triều yết ngày 9.12.1981.
Nghĩa là thế nào? Đơn giản là sự sống lại là tình-trạng sung mãn nhất của con người, bởi sự hoàn thành của ý nghĩa việc vợ chồng tận hiến thân xác cho nhau. Nói cách khác, trong sự sống lại thì sự khao khát hiệp thông với tư cách là con người, là sự khao khát cao độ nhất và toàn diện hơn cả của chúng ta mà chúng ta tìm cách thực hiện trong hôn nhân, sẽ đầy đủ bởi tác động của Thiên Chúa cho ta tận hiến chính mình cho Thiên Chúa. "Sự hiệp thông nội tại (của Tam Vị) trong Thiên Chúa, đức Gioan Phaolô II giải thích, sự hòa hợp của những gì là nhân-tính đối với những gì là thuần túy thiên-tính sẽ đạt tới đích điểm. Linh đạo mới mẻ này sẽ là hoa quả của ơn Chúa, nghĩa là Thiên Chúa hiệp thông trong chính thiên-tính của mình không chỉ là với linh hồn mà cả những gì là nhân-tính (Thuyết trình 12.1981)
Hôn nhân nhắm đến việc xây dựng trong ta cái khao khát hiến dâng toàn diện, rèn luyện cho nó lớn lên và chín mùi đến thỏa mãn mà chỉ có Thiên Chúa là Đấng thực hiện được mà thôi. Theo nghĩa đó, hôn nhân là một môi giới, môi giới mà những ai có ơn gọi đi tu thì được miễn, nghĩa là tận hiến chính mình cho Thiên Chúa ngay trần gian này. Bởi sự độc thân vì "Nước Trời" là một sự lựa chọn của kẻ đã thực hiện ngay ở trần gian này – dĩ nhiên còn là bất toàn-- sự tận hiến hoàn toàn cho Thiên Chúa và sự đón nhận ơn của Thiên Chúa mà chỉ có thể thực hiện đầy đủ trên Nước Trời, sau khi mọi thân xác sống lại.
Đối với kẻ có ơn gọi hôn nhân -- đa số --, đời sống tình trạng hôn nhân chuẩn bị cho họ đi tới biến cố đó của Nước Trời. Tất cả việc làm của hôn-nhân là mỗi ngày một hơn, dẹp bỏ dần dà, những chướng ngại vật giúp cho ta nhận ơn Chúa đầy đủ nơi sự sống lại, sẽ thực hiện nhân bản trọn vẹn hơn bằng cách thụ hưởng chính Thiên Chúa trọn vẹn và đời đời được ghi trong con tim nam nữ, từ nguyên thuỷ.
Đó là cái đích cuối cùng và cao cả của hôn nhân trên bình diện thiêng liêng. Nhưng cái cùng đích đó được thực hiện trước hết bởi sự khiêm nhường do lòng tha thứ. Sự tha thứ là chặng đường bắt buộc phải đi qua của sự hiệp thông, bởi vì sự lỗi lầm (mà vợ chồng tha thứ cho nhau) là những điểm tai hại cho sự hiệp thông.
Vì thế, sự tha thứ là điều làm cho sự hiệp thông luôn mãi tái tạo. Phải đi qua sự ấy, nhờ sự tha thứ không ngừng, một đòi hỏi rộng lượng tha thứ --bảy mươi bảy lần bảy--, để gìn giữ sự hiệp thông. Sự tha thứ không thể là chuyện hiểu ngầm; nó phải được tỏ bày một cách khiêm tốn và được bộc lộ ra một cách rõ ràng. Các vị khổ tu trong đan viện hiểu rõ tâm lý về luật này, nên mỗi ngày vào giờ "thú lỗi" (chapitre de coulpes), các ngài đã vui vẻ thú nhận hay chấp nhận lỗi lầm của mình về nhân đức yêu thương anh em trong đan viện và xin anh em tha thứ. Không biết mình có lỗi lầm thực sự hay không, nhưng sự tự thú trước như thế, và khiêm tốn xin tha thứ, có thể cắt đứt được những lời bóng gió nói về mình hay đôi khi tố cáo sai lầm, bịa đặt về mình. Đó như là bức tường mà đan viện dựng lên để ngăn ngừa những sự thể như thế có thể xảy ra.
Đối với vợ chồng, sự tha thứ là đòi hỏi tiên khởi cho sự trưởng thành trong hiệp thông giữa vợ chồng. Không có tha thứ, nhiều cặp vợ chồng vẫn có thể sống được với nhau, nhưng chỉ là kiểu "góp gạo nấu chung", sống với nhau một cách hời hợt, không có tâm đầu ý hiệp về tâm hồn và thể xác. Ca dao Việt Nam đã nói:
"Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ,
Vô duyên đối diện bất tương phùng".
Trong hôn nhân khi không có tha thứ, hoặc có xin mà không được chấp nhận thì giống như làn nước xoáy mòn nền nhà trước khi làm cho nó sụp đổ. Và khi mà đôi bạn tỏ bày sự tận hiến thân xác cho nhau, mà trước đó không thực là đã tha thứ cho nhau thì sự tận hiến đó chỉ còn là điều giả dối và không thể cho rằng là một sự kết hiệp thực sự. Hoặc ngày nay, bên trời Âu, nhiều bà vợ còn cho đó là sự "hãm hiếp" nữa! Kể ra cũng không sai lầm, vì là một thứ giao hợp ép buộc! Vì vậy tại sao sự tha thứ là sự bảo đảm cho sự trung thành đôi lứa, vì nó luôn đặt họ trước đòi hỏi về sự trung thực, sự thật và về sự hiệp thông giữa hai người.
Sự bất trung trong hôn nhân thường chỉ là tiếng dội của việc tha thứ, hoặc không xin, hoặc xin mà không chấp nhận, làm cho giữa hai người có vùng tăm tối, không nói ra, đau buồn, oán hận, thiếu thốn... dần dà trở nên môi trường cho sự dối trá. Sự tha thứ thường được duy trì nơi đôi bạn, trái lại gìn giữ mãi mãi trong sự đòi hỏi về sự thật làm cho sự trung thành trong đôi bạn bền chặt luôn. Phụng vụ thánh thể dạy cho ta biết sự xin tha thứ như là bước đầu bắt buộc trước khi chịu lễ, dọn lòng ta rước lấy Chúa bởi hai lần xin tha lỗi: Tôi cáo mình cùng Đức Chúa Trời...; Con chẳng đáng Chúa ngự vào lòng con, nhưng xin Chúa...
Từ sự tha thứ này, đến sự tha thứ khác, sự hiệp thông trong hôn nhân trở nên chính xác hơn, dứt khoát hơn, dù nó luôn luôn là chưa vẹn toàn, nhưng đào sâu trong ta sự khao khát, sự hiệp thông toàn diện mà chính Thiên Chúa, vào thời sau hết, sẽ là đối tượng và là nguyên nhân lấp đầy!
Xuân Giáp Ngọ 2014 (Phỏng theo tài liệu của đức Gioan Phaolô II)
Xin Chúa thánh hóa gia đình chúng con (2000)
Nhóm gia đình trẻ 2014
TRƯỞNG THÀNH CỦA TÌNH YÊU
của AC Nguyễn Long Hằng
Yếu tố căn bản của linh đạo hôn nhân chính là tình yêu đong đầy trong trái tim của hai người phối ngẫu như quà tặng của Chúa Thánh Linh. Đôi tân hôn đón nhận ân huệ này qua bí tích hôn phối như một ân huệ đặc biệt. (Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 trong buổi triều kiến ngày 14.11.1984)
1. Đêm tối của cảm xúc
Các tác giả nổi tiếng của những bài viết về vấn đề thiêng liêng đều công nhận rằng, đời sống thiêng liêng thường gặp đó đây nhiều thử thách, tựa như những giai đoạn tăng trưởng cho đời sống thiêng liêng. Đó là đêm tối của cảm xúc, lúc mà linh hồn không còn hứng thú cầu nguyện, lúc mà đời sống tâm linh hình như đã mất đi mọi thú vị và hấp dẫn, đó là những đêm đen của linh hồn, là những kinh nghiệm đau đớn trong tăm tối của đức tin. Thánh Gioan Thánh Giá đã diễn tả cho chúng ta biết nhiều về tình trạng này. Nhưng gần đây nhất, đêm tối của Đức Tin mà mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta đã trải qua càng làm cho chúng ta xúc động hơn nữa. Chính mẹ đã viết những lời này: "Người ta thường nói rằng, những kẻ sa vào hỏa ngục phải chịu khốn khổ đời đời chỉ vì đánh mất Thiên Chúa. Nhưng nếu họ còn có một chút cỏn con hy vọng là sẽ có được Thiên Chúa, thì chắc họ sẽ vượt qua được những khốn khổ đó. Nhưng trong hồn tôi, tôi cũng cảm thấy chính cái khốn khổ đánh mất Thiên Chúa đó, một Thiên Chúa không thương tôi nữa, một Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa, một Thiên Chúa thật ra không hiện hữu... Những bóng tối này bao phủ tôi tứ bề, tôi không thể vươn lên tới Thiên Chúa, không còn ánh sáng, không còn ơn soi sáng nào chiếu vào hồn tôi. Tôi nói về tình yêu của các linh hồn, về tình yêu dịu dàng dành cho Thiên Chúa - lời nói vừa ra khỏi miệng tôi thì tôi lại thất vọng vì tin vào đó... Thiên đàng, cả một sự trống rỗng! Không có một tư tưởng nào về thiên quốc lọt vào tâm trí tôi, bởi vì không còn hy vọng nữa" (Thư gởi cha Picachy, ngày 03.09.1959). Nhưng dầu vậy, mẹ thánh vẫn không ngừng yêu Chúa.
Thế thì tại sao đời sống phối ngẫu lại được miễn trừ những thử thách ấy nhỉ, những thử thách sẽ thanh luyện đôi vợ chồng và giúp cho tình yêu của họ đạt đến mức trưởng thành, hoàn hảo. Ơn gọi đời sống hôn nhân là con đường nên thánh đích thực, là một trong hai ơn gọi của đời sống Kitô hữu để cho đi chính mình, bên cạnh đời sống độc thân và trong sạch. (Tông huấn Familiaris Consortio, số 11), và như thế, đời sống hôn nhân là một con đường dẫn tới sự trọn hảo của tình yêu Thiên Chúa, thế thì làm sao con đường này không có những khó khăn và thử thách, như đời sống tu trì, tuy rằng dưới những hình thức khác nhau. Nếu không như vậy thì thật là bất bình thường. Và nếu một đời sống hôn nhân mà không gặp những thử thách như thế, thì có thể là đời sống hôn nhân ấy chỉ tà tà ở mức độ tầm thường.
Đêm tối của cảm xúc ít khi xảy đến vào những ngày tháng đầu của cuộc sống lứa đôi, lúc mà tình cảm của cả hai đang dạt dào, đang say mê đắm đuối. Chỉ khi một vài năm tháng đã trôi qua thì lúc đó người ta mới cảm thấy đêm tối của cảm xúc xuất hiện: "Họ không cảm thấy yêu người phối ngẫu nữa vì sự mãnh liệt của tình yêu đã dịu lắng lần". Chẳng có gì bất thường cả, ngay cả trên bình diện tâm lý. Những khám phá mới đây về lãnh vực tình dục cho thấy rằng những xúc cảm của tình yêu là kết quả của một hiện tượng phức tạp, đến từ nhiều lý do khác nhau, nhưng hiện tượng này sẽ biến mất dần, trung bình là sau chừng 36 tháng. Bởi đó người ta không thể ở trong tình trạng si mê đắm đuối vì yêu suốt đời được. Thế thì có cần phải lo lắng không? Nhiều người có thể sẽ rơi vào sự nhầm lẫn giữa tình yêu và cảm xúc yêu thương: "Tôi không cảm thấy là tôi yêu em (yêu anh) nữa. Bởi thế, chắc là tôi không yêu em (yêu anh) nữa!". Cần phải phân biệt một cách chín chắn ở đây. Thường thì tình trạng nhạt nhẽo này là kết quả của sự lười biếng trong tình yêu. Người ta mãi lo làm lụng, mãi lo chăm sóc con cái, lo cho mọi bận rộn ngày thường và cuối cùng thì người ta quên dành thời gian cho cuộc sống lứa đôi. Thế thì có cần cố gắng hết sức để làm sống lại những đắm đuối yêu thương, những si mê của những ngày đầu tiên không? Không có gì cấm cản cả nếu tình trạng này là kết quả của những sơ sót và lạnh nhạt đối với nhau. Trong trường hợp này, chỉnh đốn lại là điều cần làm, và nên làm.
Nhưng nếu đã cố gắng chỉnh đốn lại mà tình trạng này vẫn tiếp tục thì làm sao nhỉ? Có lẽ đã đến lúc cần phải tinh luyện tình yêu, trải qua một vài thử thách để cho tình yêu được trưởng thành, cũng là lúc khám phá ra sự thật là hành động yêu thương không chỉ là cảm thấy mình yêu thương. Trong "Tình yêu và trách nhiệm", đức Gioan Phaolô 2 đã phân tích và chứng minh rằng cảm xúc yêu thương chưa phải là trạng thái hoàn hảo của tình yêu. Trong cảm xúc yêu thương, khi chỉ tìm kiếm cảm xúc, có thể chính là một sự tìm kiếm chính mình trong đó. Tình yêu như thế, có nghĩa là người ta chỉ tìm kiếm sự thỏa mãn trong cảm xúc có được nhờ đối tượng yêu thương. Và có thể là, thật ra người ta đang yêu chính mình trong lúc yêu thương đắm đuối với người phối ngẫu. Những đắm đuối yêu thương này không có gì là xấu xa cả, miễn là chúng phải được gói trọn vào trong những thái độ cao cả hơn của tình yêu. Nếu người ta chỉ ở lại trong tình trạng này, thì có lẽ người ta chỉ nằm lại trong trạng thái ấu trĩ của tình yêu. Cần phải khám phá ra rằng cảm thấy mình yêu đắm đuối cũng chưa chắc là hành động yêu thương thật sự, đúng nghĩa của tình yêu. Bởi vì khi ấy, cảm xúc yêu thương còn nằm trên bình diện của sự nhạy cảm và của tình cảm: đối tượng yêu còn được tìm kiếm khi nào nó còn bù đắp được những gì thiếu thốn trong tôi. Vì thế, dĩ nhiên là kẻ đang yêu trở nên ích kỷ và không thể mở lòng ra với những gì cao quý hơn.
Thế thì khi nào người ta mới yêu thương thật sự? Khi người ta tìm kiếm trước hết là hạnh phúc của đối tượng yêu, nghĩa là khi người ta quên mình đi vì kẻ khác. Tình yêu khi đó trở nên thứ tình yêu vị tha. Người ta ước muốn cho đối tượng yêu được hạnh phúc mà không màng đến mình. Tình yêu vị tha vượt lên trên cái gọi là cảm xúc để ngự trị ở trình độ ý chí. Trong trường hợp này, tình yêu mới thực sự là tình yêu của con người, vì lúc ấy nó phải vận dụng khả năng đặc biệt mà chỉ con người mới có, đó là muốn điều tốt bởi vì việc đó tốt. Tình yêu say đắm nằm trên bình diện cảm xúc, còn tình yêu vị tha nằm trên bình diện của ý muốn. Trước hết là muốn điều tốt cho người mình yêu, tình yêu vị tha có thể dẫn đến việc hy sinh đi chính ý muốn của mình để thực hiện ý muốn của người yêu và tìm thấy niềm vui ở đó. Trong một khía cạnh nào đó, tình yêu vị tha là luôn luôn nói với người mình yêu rằng: "không theo ý tôi, nhưng theo ý anh (ý em)", và trong ý hướng này, nó mang một ý nghĩa hy sinh, quên mình. Khi hai người có một liên hệ với nhau trong trạng thái muốn điều tốt cho nhau, thì khi đó giữa họ nảy sinh ra một thứ tình cảm được gọi là tình bạn thân thiết. Bản chất của tình bạn thân là muốn điều tốt cho bạn, trước khi muốn cho bản thân mình. Và đôi vợ chồng được mời gọi sống tình bạn thân thiết này trong cuộc sống hôn nhân. Tình yêu vị tha không cản trở những cảm xúc đắm đuối yêu thương, lôi kéo hai người đến gần nhau. Trái lại, nó sẽ xác định, bao gồm và sắp đặt thứ tự để bảo đảm cho tình yêu vị tha này có được một viễn ảnh bền vững hơn. Thêm vào đó, khi tình yêu có tính chất hướng về người khác, chính là bước đầu tiên giúp cho tình yêu được trưởng thành. Nhưng tình yêu vị tha có phải là tột đỉnh của tình yêu vợ chồng không? Chắc chắn là không, vì tột đỉnh của tình yêu nằm trong sự cho đi chính bản thân mình. Đức Gioan Phaolô 2 gọi đó là tình yêu phu phụ. (ngài dùng chữ sponsal, gốc từ chữ latinh sponsus=chồng hay sponsa=vợ). Ngài định nghĩa tình yêu vợ chồng như sau: "Tình yêu vợ chồng khác hẳn mọi thứ tình yêu khác. Nó bao gồm việc cho đi chính bản thân mình. Tất cả mọi hy sinh, cố gắng để muốn điều tốt cho kẻ khác không đi xa bằng tình yêu vợ chồng. Cho đi chính bản thân mình chắc chắn là vượt cao hơn việc muốn điều tốt cho người khác, ngay cả trong khi muốn điều tốt cho kẻ khác, kẻ khác đó trở nên chính mình như trong tình bạn thân. Tình yêu vợ chồng, tình yêu phu phụ chính là thứ tình yêu tuyệt đỉnh mà đôi tân hôn được mời gọi, và với tình yêu này mà chính họ đã long trọng tuyên hứa với nhau - có khi không thật sự ý thức - qua lời này tuyên hứa kết hôn: "Anh (em) trao thân cho em (anh)". Mặc dầu câu tuyên hứa này chỉ có trong công thức thứ ba của nghi thức hôn phối, nó cũng được hiểu ngầm trong hai công thức khác. Trong tình yêu vợ chồng, đôi tân hôn đạt tới đích điểm của ơn gọi làm người của mình, vì đặc điểm của con người chính là tự cho đi chính bản thân mình. Công Đồng Vatican 2 đã khẳng định trong thông điệp Gaudium et Spes: "Con người là tạo vật duy nhất ở trần gian được Thiên Chúa dựng nên cho chính mình. Họ chỉ có thể gặp lại bản thân mình nhờ chân thành cho đi chính bản thân mình" (Gaudium et Spes 24). Vì là con người, nên chỉ người khi biết trao tặng chính bản thân mình một cách hoàn toàn, không điều kiện và không giới hạn. Vì thế, trong hôn nhân, đôi tân hôn được mời gọi để trao tặng chính bản thân mình cho người phối ngẫu, cũng như những linh mục tu sĩ được mời gọi trao tặng chính bản thân mình cho Thiên Chúa. Trong mọi đời sống, để sống trọn ơn gọi làm người, đời sống đó phải biết cho đi, trong đời sống gia đình hay đời sống thánh hiến.
Nóng bỏng với những tình cảm dạt dào của thời gian đầu gặp gỡ, đôi tân hôn không nhận thức được rằng mình được mời gọi sống đời tận hiến cho người mình yêu. Cho đến khi những cảm xúc ấy lặng dần, đó là lúc đôi tân hôn phải nhận thức được ý nghĩa sâu thẳm của việc lãnh nhận bí tích hôn phối. Đêm tối của cảm xúc chắc chắn là một dịp may để thăng tiến tình yêu đến mức trưởng thành. Nó có thể là một lời mời gọi vượt qua, từ tình yêu thiên về cảm xúc tiến đến một tình quên mình, để từ đó họ thực hiện ơn gọi làm người của mình. Sẽ có những lúc say mê, những lúc đắm đuối, cũng tốt thôi. Nhưng họ sẽ không còn nghĩ rằng yêu nhau chỉ là cảm thấy yêu. Họ sẽ khám phá ra rằng yêu thương thật sự chính là trao tặng chính bản thân mình mà không cần đền đáp, không cần điều kiện, một cách nhưng không.
2. Đêm tối của lý trí
Nếu tình yêu phu phụ có thể thanh luyện và truởng thành trong đêm tối của cảm xúc, đôi khi đôi tân hôn cũng được mời gọi để trải qua một hình thức triệt để và đôi khi đau đớn hơn của sự thanh luyện. Có thể người ta sẽ không những không cảm thấy mình yêu, mà còn không biết là mình yêu. Không hiểu tại sao mình lấy nhau, lấy nhau để làm gì, tại sao lại lấy người này, người kia, có thể lầm lẫn vì đã lấy nhau, lầm lẫn trong ơn gọi, nghi ngờ phép cưới không thành v.v... Đêm tối này nằm trong lãnh vực của lý trí, của suy nghĩ chứ không còn nằm trong lãnh vực cảm xúc hay tình cảm. Đó là thử thách tối cao của tình yêu, mà lần này tình yêu chỉ tồn tại được là nhờ ý chí của người phối ngẫu đối với lời hứa trung thành. Đây là một thử thách không diễn tả được, một thử thách sống còn, một cuộc chiến thiêng liêng cần đến vũ khí là lời cầu nguyện. Đức Gioan Phaolô 2 đã nhấn mạnh điều này trong buổi triều kiến chung ngày 27.6.1984, khi ngài giảng giải đoạn kinh thánh nói về việc thành hôn của Tobie và Sara. Vì Sara bị chúc dữ, nên hôn sự của họ được so sánh bằng trận chiến sống còn và đôi tân hôn bị lôi cuốn vào trận chiến của sự lành và sự dữ. Thế thì làm sao họ chiến thắng được sự dữ ? Nhờ lời cầu nguyện mà Tobie mời gọi Sara trong đêm tân hôn, cả hai đã tuyên bố đặt Thiên Chúa vào giữa hôn sự của họ, qua đó họ mặc lấy sức mạnh của chính Ngài. Trong đêm tối của lý trí, đôi vợ chồng phải nhận thức rõ ràng về ý nghĩa và tầm quan trọng của những lời mà họ đã tuyên bố khi trao thân gởi phận cho nhau: "Để yêu em (anh) trong vui mừng cũng như khi bị thử thách, trong hạnh phúc cũng như lúc gian nan". Để yêu em một cách trung thành, cho dù anh không biết em có yêu anh không, cho dù anh không hiểu gì nữa về cuộc sống hôn nhân của chúng mình, cho dù anh không còn chút cảm xúc nào, cho dù anh trách móc em vì em không hiểu anh, cho dù anh tự trách anh vì đã không hiểu em... Trung thành đến cùng, không điều kiện, cho dù tất cả chung quanh ta thúc đẩy ta nuốt lời đã hứa. Trung thành không phải vì con cái, vì sợ người ta nói, vì thể diện gia đình, vì nề nếp xã hội, nhưng bởi vì đã cho đi chính bản thân mình, cho đi mà không lấy lại, cho đi mãi mãi. Chính đó là sự thanh lọc cuối cùng. Chính đó là lúc mà hôn nhân trở nên mong manh và chỉ còn tồn tại được là nhờ vào ý chí, muốn tiếp tục cho đi trong khi trí khôn lại bảo rằng không còn lý do nào để tiếp tục cho đi. Đó cũng là lúc mà ma quỷ tăng cường nỗ lực để đánh lạc hướng của đôi vợ chồng về sự trao thân gởi phận mà họ đã thề hứa. Cũng giống như cô Marthe Robin tâm sự rằng, ma quỷ đã thôi thúc cô rằng "Có ích gì nhỉ?" khi mỗi tuần cô được diễm phúc sống lại cuộc khổ nạn của Đức Kitô, thì đôi vợ chồng, trong đêm tối của lý trí của cuộc sống hôn nhân này, cũng bị cám dỗ để buông xuôi, để lỗi lời thề hứa bằng nhiều cách khác nhau. Nhưng trong tiếng "Xin vâng" được lặp lại trong mọi hoàn cảnh, trong hy hiến của tình yêu, chính là lúc họ nói lên được cái huy hoàng và chân thật của tình yêu họ dành cho nhau.
Đức Kitô cũng đã trải qua đêm tối của lý trí, lúc Ngài hoàn thành công cuộc cứu độ, lúc Ngài thực hiện việc kết hợp giữa Ngài và Giáo Hội như hiền thê: "Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?". Khi sự hiến thân của Ngài không còn được nâng đỡ bởi sự hiểu biết, chính là lúc Ngài thích nhất, lúc của lễ chính bản thân Ngài trở nên hoàn hảo nhất. Đức Giêsu có thể cũng kêu gọi một vài cặp vợ chồng bước theo Ngài trên con đường tình yêu hoàn hảo đó, cũng như Ngài đã kêu gọi một số linh hồn yêu Ngài không lý do, không điều kiện. Cơn thử thách này và con đường thanh luyện triệt để này không chỉ dành cho những bậc khổ tu, những nhà huyền bí. Chúng cũng có thể là lời kêu gọi cho những cặp vợ chồng sống đời tận hiến cho nhau, như chính Ngài đã tận hiến cho loài người. Những người được mời gọi như thế là những linh hồn được ưu tuyển, vì Đức Giêsu chỉ mời gọi những ai mà Ngài biết chắc rằng họ sẽ chấp nhận để sống trọn vẹn tình yêu hy hiến cho nhau như tình yêu của chính Ngài.
Chúng ta có thể sợ hãi những thử thách để tinh luyện tình yêu như thế. Bình thường thôi. Vì chính Đức Kitô cũng lo sợ như vậy, đến độ người ta có thể nghĩ rằng sự sợ hãi làm cho Ngài run sợ đến chảy mồ hôi máu ở vườn cây dầu không phải vì Ngài lo sợ những khổ hình sắp phải chịu, mà là lo lắng cho đêm tối của lý trí đang chờ Ngài ở đỉnh núi sọ. Nhưng đó cũng là thử thách giúp chúng ta đạt đến tột đỉnh của đời sống Kitô hữu, có nghĩa là đạt được sự hoàn hảo của ba nhân đức Tin, Cậy, Mến. Khi đức tin bị bao phủ bởi bóng tối của lý trí mà vẫn vững tin, đức tin ấy trở nên tinh tuyền: khi đôi vợ chồng vẫn bền vững trong lời hứa thủy chung, vẫn tiếp tục trao thân gởi phận cho nhau, ngay cả khi không còn biết được lý do tại sao, thì lúc đó lời hứa thủy chung của họ đạt được giá trị đích thực của nó. Họ cũng trở nên hoàn hảo trong đức cậy, vì nó giúp cho họ tiếp tục duy trì sự cho đi, không nhờ vào cảm xúc, tình cảm, hay sức lực con người, mà chỉ nhờ vào ơn thánh Chúa mà họ đã nhận lãnh được qua bí tích hôn phối. Ơn thánh này tiếp tục được ban cho họ, giúp họ sống trọn vẹn mỗi giây phút những đòi hỏi của đời sống hôn nhân. Cuối cùng, họ trở nên hoàn hảo trong đức mến, trong tình yêu, khi tình yêu này tiếp tục được ban phát mà không cần lý lẽ. Tiếp tục yêu thương ngay cả khi mình không hiểu tại sao phải yêu thương chính là sự hoàn hảo của tình yêu, bởi vì đó chính là thứ tình yêu mà Đức Kitô đã yêu thương chúng ta: yêu thương không có lý do...
3. Cho tới khi cái chết chia cách chúng ta
Những đôi tân hôn thường ước muốn một cách ngây thơ là, không những được sống chung với nhau, mà còn được chết chung với nhau. Nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng việc ấy ít khi xảy ra, và tất cả mọi đôi tân hôn đều phải đối diện với sự mất đi của người mình yêu mến. Theo thống kê thì người nữ sống thọ hơn người nam, và vì thế thường hay phải chịu cảnh góa bụa, nhưng đó là một thử thách mà cả hai vợ chồng đều có thể gặp phải.
Cảnh góa bụa, trước tiên và dĩ nhiên là một thử thách để thanh luyện cảm xúc và tình cảm. Không còn được chia sẻ với nhau những chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống thường ngày, không còn đưọc thấy mặt nhau, không còn được cảm nhận những yêu thương trìu mến của người mình yêu, không còn cảm thấy được sự hiện diện của người được gọi bằng chữ Mình ơi, (một xương một thịt), quả là một thử thách lớn lao, ngay cả khi thử thách này đã được báo trước và chuẩn bị chẳng hạn như trong thời gian nằm trên gường bệnh, việc này đã giúp cho đôi vợ chồng từ từ chấp nhận điều phải đến, nhưng lại gắn bó hai người lại với nhau một cách bí ẩn.
Đó cũng là một thử thách cho đời sống tâm linh. Khi hai vợ chồng không sống riêng rẽ, mỗi người một cuộc sống, mà sống hiệp thông với nhau, không những về thể xác và tình cảm, mà còn về tâm linh, thì khó mà trở về một đời sống tâm linh riêng lẻ. Nhưng chưa chắc phải như thế. Đời sống tâm linh trong cuộc sống góa bụa là một đời sống tâm linh của người độc thân hay vẫn phải giữ đặc tính của đôi vợ chồng? Người ta khó có thể nghĩ được rằng, sau khi đã chia sẻ với nhau trăm nghìn điều về đời sống nội tâm trong nhiều năm tháng, người ta trong một sáng một chiều, có thể sống như những việc ấy chưa bao giờ xảy ra vậy. Không những vô nhân đạo về phương diện tâm lý, mà lại vô lý trên bình diện tâm linh. Thế thì đời sống tâm linh của cảnh góa bụa phải là thế nào? Cốt yếu là việc thông công. Những người sống cảnh goá bụa đã làm chứng rằng họ thông công với người phối ngẫu đã qua đời với cường độ cao hơn và một cách thiết thực hơn. Nhà văn Công Giáo Jean Guitton đã làm chứng sau cái chết của vợ ông về kinh nghiệm chuyển từ việc đối thoại qua việc thông công. Nhưng chúng ta nói về việc thông công nào vậy? Chính là việc thông công mà Giáo Hội gọi là tín điều các thánh thông công. Đó không phải là sống trong kỷ niệm với những cảm xúc về người đã mất, nhưng là cảm nghiệm sự hiện diện của họ và sống với họ qua một sự thông công tâm linh, chứng tỏ rằng kinh nghiệm này vượt lên trên tất cả mọi sự cảm thông hay trải nghiệm họ đã từng trải với nhau trong suốt thời gian còn chung sống. Cái chết chia cách hai vợ chồng, nhưng lại kết hợp họ trong một sự hiệp thông hơn hẳn những gì họ đã chia sẻ với nhau khi còn sống. Đó phải là đời sống tâm linh của cuộc sống góa bụa, cuộc sống thông công mà chúng ta vẫn tuyên xưng mỗi Chúa Nhật trong kinh Tin Kính, có liên hệ trực tiếp đến mầu nhiệm Phục Sinh. Đời sống tâm linh này vẫn là một đời sống tâm linh của vợ chồng, nó còn vượt lên thêm một bực. Có thể nói cách khác, đó là sự trưởng thành hoàn hảo nhất của tình yêu vợ chồng.
Thật vậy, hôn nhân loan báo việc xác loài người sẽ sống lại vào ngày quang vinh của Đức Kitô - Vị hôn phu. Sự sống lại này sẽ là kết cục trọn hảo nhất của kiếp người chúng ta, nhờ sự kết hợp hoàn toàn với những gì chúng ta đã có cảm nghiệm trong cuộc sống này, trên bình diện thể xác và bình diện tâm linh. Nhưng sự sống lại cũng là thành quả hoàn hảo nhất của loài người, thụ tạo duy nhất được kêu gọi sống mầu nhiệm thông công: "Nước Trời, đức Gioan Phaolô dạy, chắc chắn là đích điểm của mọi ước vọng của loài người: đó là sự viên mãn của sự tốt lành mà con người ao ước, vượt khỏi mọi mơ ước mà con người có thể có trong cuộc sống ở trần gian này. Nó chính là sự viên mãn trọn hảo của ân huệ của Thiên Chúa" (Cuộc triều kiến ngày 21.4.1982). Trong ngày Phục Sinh, mầu nhiệm các thánh thông công sẽ được tỏ bày một cách rõ ràng, và chính Thiên Chúa sẽ là trung tâm của mầu nhiệm thông công này. Lúc ấy, con người sẽ nhận biết Thiên Chúa cách trọn vẹn, và đó chính là sự thông công trọn hảo.
Một thắc mắc của những người sống đời góa bụa là đời sau sẽ như thế nào, lúc xác kẻ chết sống lại. Đức Kitô đã chẳng tuyên bố sao: "Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời". (Matthêu 22, 30). Cũng như bí tích hôn phối hình như chấm dứt với cái chết, vì Giáo Hội cho phép người ở góa được phép tái hôn, có nhiều người nghĩ rằng mối ràng buộc của đôi vợ chồng chấm dứt hoàn toàn với cái chết. Điều này có thể làm cho đời sống nội tâm bất ổn và có thể trở thành một nỗi ám ảnh nặng nề. Chẳng lẽ bí tích hôn phối mà chúng ta đã lãnh nhận có ít ý nghĩa và chẳng nặng ký bao nhiêu sao, bởi vì nó bị tiêu huỷ hoàn toàn trong thời viên mãn, nơi mà chúng ta được mời gọi bước tới? Trước tiên cần phải nhấn mạnh về câu mà Giáo Hội dùng trong nghi thức cử hành bí tích hôn phối. Câu "cho tới khi cái chết chia cách chúng ta" được thay bằng câu "suốt cuộc sống của chúng ta". Câu này không phải tầm thường đâu, vì "suốt cuộc sống của chúng ta" phải được hiểu là "suốt cuộc sống đời đời của chúng ta, mà cuộc sống ấy đã được bắt đầu trên trái đất này". Hơn nữa, cũng phải hiểu rõ lời của Đức Kitô nói với nhóm Sa đốc. Ngài không nói, "trong ngày sống lại, người ta không - là - vợ - là - chồng", nhưng ngài nói, "trong ngày sống lại, người ta - chẳng - lấy vợ lấy chồng". Trong ngày sống lại người ta không lấy vợ lấy chồng, bởi vì một lý do thật đơn giản là những gì được loan báo và bắt đầu ở dưới đất sẽ thực sự được hoàn thành trong ngày sống lại. Đức Gioan Phaolô 2 đã khẳng định rằng: "Bí tích Hôn phối có giá trị trên trời, giá trị cơ bản, phổ quát và bình thường" (Cuộc triều kiến ngày 31.03.1982). Nhưng những người sống cuộc sống vợ chồng dưới đất, sẽ có liên hệ với nhau thế nào, khi mối liên hệ vợ chồng được tiếp tục cách viên mãn trong nước Trời? Khó mà hình dung được. Nhưng thánh Tôma d'Aquin đã nói rằng: "Sự kết hợp hoàn toàn với Thiên Chúa trong ngày Phục Sinh không loại trừ việc chúng ta có thể có liên hệ gần gũi với ai đó, nhưng sự gần gũi này được đo bằng đức mến. Có nghĩa là trong ngày sống lại, chúng ta sẽ gần gũi hơn với những người chúng ta đã yêu thương hoặc với những người đã yêu thương chúng ta. Điều này cho phép ta nghĩ rằng thật là đúng cho những đôi vợ chồng đã sống đời hôn nhân với một tình yêu lớn nhất".
Cuộc sống góa bụa sắp đặt cho người sống nó trải nghiệm mầu nhiệm các thánh thông công, và điều này khẳng định rằng, linh đạo vợ chồng trong cảnh góa bụa là linh đạo của mầu nhiệm thông công. Linh đạo này vẫn là linh đạo của vợ chồng, nhưng trên một mức độ tuyệt vời hơn. Khi sống chiều kích thông công này một cách đặc biệt với người phối ngẫu đã quá cố, nhưng vẫn sống trong Thiên Chúa đợi chờ ngày sống lại, những người vợ, người chồng góa có thể trở thành những tiên tri đích thực của mầu nhiệm các thánh thông công.
NIỀM VUI TRAO BAN
của AC Đoàn Quốc Khánh
"Quả là một sự kết hợp kỳ diệu, khi họ TRỞ NÊN MỘT,
và do sự kết hợp đó nẩy sinh TÌNH CHA và TÌNH MẸ,
vậy là họ đã trở về nguyên ủy của SỰ SỐNG".
1. Vai trò của thân xác trong cuộc sống lứa đôi.
Thế giới ngày nay đứng trước hai khuynh hướng có vẻ nghịch thường: một đàng là hiện tượng tôi luyện thân xác bằng mọi phương tiện, nhất là trong các ngành nghệ thuật, thời trang… cốt sao đạt được một thân hình tuyệt hảo. Khuynh hướng thứ hai coi như một hệ quả của phái khắc khổ, chê bai và coi thường những giá trị của hình hài con người.
Phải quan niệm là thân xác của mỗi người chúng ta, cùng với tinh thần, góp phần vào sự triển nở của nhân vị, phát huy nhân cách và mở rộng tương quan với người phối ngẫu và với xã hội bao quanh. Bởi mỗi người chúng ta có một thân thể, như chính Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã quả quyết: "THÂN THỂ CHÚNG TA LÀ CHÍNH CHÚNG TA" (notre corps, c’est nous!). Và nhờ đó, chúng ta nhận chân ra nét đẹp, nét phong phú của tình yêu đôi lứa: họ sẽ không còn nhìn nhau qua tấm gương nữa, mà nhìn nhau thực sự qua ánh mắt, qua dòng sống, qua chiều kích hiện sinh: đây mới thực là phương cách thể hiện tình yêu của Thiên Chúa.
Từ ngàn xưa, Thiên Chúa đã tạo dựng Con Người. Ish và Isha, một người nam và một người nữ, và Ngài coi đó như một tuyệt phẩm của công cuộc tạo dựng. Sự kết hợp của họ trong hôn nhân đã mạc khải ra những gì Thiên Chúa mong đợi nơi con người: tình dục đôi lứa sẽ rộng mở trong một chiều kích hướng thượng, thăng hoa về hướng tinh thần. Thân xác, như đền thờ của Thánh Linh, sẽ tỏ bày ra những biểu hiện vô hình, linh thiêng và thần thánh.
Vậy niềm vui yêu thương phát xuất từ đâu? Câu trả lời chắc hẳn phải tìm từ khởi thủy của nhân loại, điều mà Thánh Giáo Hoàng đã gọi là TIỀN SỬ THẦN HỌC CỦA CON NGƯỜI như sách Sáng thế đã vạch rõ: con người, đứng trước Thiên Chúa và chính mình, đã thấy mình khác hẳn với mọi loài vật trên trời và dưới thế. Nhưng đây cũng là một hoài vọng của thân phận con người, vì từ căn bản, nó vẫn cô đơn. Chính Đức Chúa cũng phán: "Con người ở một mình không tốt…" (St 2,18). Tuy con người ý thức được sự ưu việt của mình, theo nghĩa không một sinh vật nào có thể sánh được với họ, vì xét theo chiều hướng tích cực, họ có khả năng cai quản mọi loài – nhưng họ vẫn không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng (ST 2,20). Adam (có nghĩa là con người) vẫn hoài vọng trao ban cho một sinh vật tương tự về nhân tính một sinh vật có thể đón nhận sự trao ban của chính ông. Ông vẫn sống trong nỗi cô đơn, nhưng đồng thời vẫn ý thức mình là một nhân vị, khác hẳn với bao sinh vật khác.
Theo đức Gioan Phaolô II, không một sinh vật nào có thể cung hiến cho con người những điều kiện căn bản, theo đó có thể có hồng ân trao phó, tín thác cho con người. Trong nỗi cô đơn có thật đó, Công Đồng Vatican II đã có một định nghĩa tuyệt hảo về con người: "Chỉ có con người, một thụ tạo duy nhất trên trần đời, là Thiên Chúa muốn cho họ một hồng ân chân thành nhất của chính mình" (GS,24).
Chúng ta hiểu niềm vui, sự hân hoan xâm chiếm tâm hồn con người Adam, khi Evà xuất hiện, ông kêu lên: "Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" (St 2,23).
Đây không phải chỉ là sự chiêm ngưỡng thân hình kiều diễm của Evà, nhưng còn là một niềm vui khôn tả của một nhân vật, được thể hiện như một nhân vị, khi trao ban chính mình cho người phối ngẫu. Một "cái tôi thứ hai" một sự hiệp thông nhân vị: là lời ca tụng tình yêu, là một bài hát yêu thương của nhân loại, là một bản thánh kinh của sách Diễm Tình Ca.
2. Niềm vui hiệp thông.
Nỗi hân hoan trao phó chính bản thân mình đã trở thành sự thông hiệp hỗ tương, như sách Diễm Tình Ca diễn tả. Đây là một sự hiệp thông của một người đàn ông và một người đàn bà trong tình yêu đôi lứa, tình yêu dâng hiến trao ban. Đức Gioan Phaolô II, trong buổi triều yết ngày 6/6/1984, đã nói: "Chân lý về tình yêu, như Diễm Tình Ca diễn tả, không thể tách rời khỏi ngôn ngữ của thân xác" Tất cả sách này đều quy chiếu về niềm vui trao ban: "Những ngôn từ của con người không hẳn chỉ là nét thơ phú cho người tình, vẻ đẹp của người tình trổi vượt hơn mọi cảm quan, vì còn là một hồng ân và trao hiến của con người".
Suy niệm về sách Diễm Tình Ca sẽ là một ân sủng cho đôi lứa. Và nếu các nam nữ tu sĩ suy niệm về bản văn này, họ sẽ bắt gặp mối tương quan của con người với Thiên Chúa theo kiểu nói của thánh Bernarđô, hay là mối lương duyên huyền nhiệm (theo thánh Gioan Thánh Giá). Những người phối ngẫu sẽ cảm nghiệm bản văn này và ý thức được cánh cửa rộng mở trong niềm hiệp thông thể xác một cách nguyên tuyền, trước khi bị tội tổ tông làm lu mờ những liên hệ hỗ tương, trước khi con tim trinh trắng chưa bị nhục dục làm ô uế.
Dĩ nhiên, tình trạng nguyên tuyền này đã bị tội tổ tông làm hư hoại. Nhưng con tim thanh khiết có thể được cứu vãn khi đón nhận Ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô, tìm lại niềm vui nguyên thủy của sự thông hiệp. Bản văn của sách Diễm Tình Ca sẽ minh chứng cho chúng ta sự rạng rỡ của thân xác trong đời sống đôi lứa, một thứ tình dục trọn hảo, theo nghĩa biết tôn trọng và lượng giá ơn gọi của thân xác, của ngôn ngữ thân xác. Thánh Giáo Hoàng đã có lý khi đề ra ba buổi triều yết về những hệ luận luân lý của nền thần học về thân xác, niềm vui sâu xa khi đón nhận người phối ngẫu với tư cách của một nhân vị, và khi đón nhận những đòi hỏi luân lý của đời sống đôi lứa.
Khát vọng do tình yêu đòi hỏi, khi đặt căn bản trên ngôn ngữ của thân xác, sẽ là một tìm hiểu về vẻ đẹp nguyên tuyền, về nét đẹp của linh hồn và thân xác.
3. Niềm vui vẫn tồn tại.
Điều gì vẫn tồn tại cho dù những vi phạm của tội tổ tông? Chắc hẳn đó là tiếng than của bà Evà, sau những lời chúc dữ như hệ lụy của tội nguyên tổ: "Adam ăn ở với Evà, vợ mình. Bà thụ thai và sinh ra Cain. Bà nói: nhờ Đức Chúa, tôi đã được một người" (St 4,1). Theo đức Gioan Phaolô II, đây là tiếng reo vui của người mẹ chúng sinh, người mẹ của muôn loài, niềm vui trước sự cao vời của việc sinh con.
Đây là niềm hân hoan của bất kỳ bà mẹ nào trước phép lạ của đời sống, và cũng là niềm vui của những người cha đồng tham dự vào, vào nguồn suối của sự sống nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa là nguồn sống. Điều này lý trí cũng có thể chân nhận ra, bằng chứng là triết gia Aristote, vào thế kỷ thứ IV trước Công nguyên, khi nói về Nguyên Ủy đệ nhất (Causa causarum) là Thiên Chúa: "Nguyên Ủy này là một sự sống hoàn hảo nhất, đã ban cho chúng ta sự sống, trong một khoảnh khắc này" (Siêu hình học, cuốn 12, chương 7). Vậy nếu Thiên Chúa là Sự Sống, thì người nam và người nữ, cả hai là hình ảnh của Ngài qua sự thông hiệp, thì họ cũng là hình ảnh của sự sống này. Hơn nữa, Thiên Chúa khi thông truyền Sự Sống qua mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, thì con người cũng được cộng hưởng ân sủng đó: "Một người con sinh ra, do sự kết hợp của lứa đôi, thì người con này sẽ là một hình ảnh và sẽ rất giống Ngài" (GS 9).
Người con sinh ra, là một hoa trái, đồng thời cũng là chứng nhân của sự thông hiệp, cho dù sự thông hiệp này bị sứt mẻ, bị biến thái. Người con vẫn là dấu hiệu bền vững của sự thông hiệp đầu tiên. Vì vậy, người con phải củng cố sự thông hiệp của cha mẹ, và phải cứu vãn sự thông hiệp này. Khi một cuộc hôn nhân rạn nứt, vì không còn tình yêu, thì bậc cha mẹ phải vững tâm trong đời sống chung, vì con cái. Con cái là biểu hiệu của sự hiệp thông, là ấn tích không thể xóa nhòa. Là minh chứng của niềm vui trao ban, là pháo đài sau cùng cho dù tình yêu đã cạn tuyệt. Biết bao các bậc phụ huynh, qua ánh mắt của các con mình, đã tìm được lý do và nghị lực, để sống mãi bên nhau? Con cái sẽ là những người con cứu vãn tình yêu, là lòng thương xót tối hậu cho tình yêu có thể tàn úa.
Chính vì vậy, đức Gioan Phaolô II đã tranh đấu liên lỉ chống lại nền văn minh của sự chết, đang làm băng hoại những xã hội phát triển, tới độ Ngài dám chống lại những âm mưu, những toa rập chống lại sự sống (thông điệp Tin Mừng của Sự Sống, số 17). Vì từ khước con cái cũng là chống lại Thiên Chúa, tác giả của mọi sự sống. Khi đứa trẻ trở thành một gánh nặng, bị giảm trừ thành một giá phải trả, thì khi đó, cha mẹ đã đánh mất ý nghĩa của sự hiệp thông và căn cớ của niềm vui này. Bởi lẽ, niềm vui yêu thương cũng là niềm vui trao ban, và không có trao ban nào lớn hơn là trao ban sự sống. Quảng đại đón nhận sự sống trong các gia đình sẽ là niềm hy vọng của nhân loại, hướng về nguồn mạch của mọi hiệp thông và an vui. Gia đình, trong niềm hy vọng đó, sẽ là sự hiệp thông căn bản của đôi phu phụ, tiếp nối nơi đời con cháu. Khi đó, chúng ta hiểu sự quả quyết của Thánh Giáo Hoàng – Tương lai của nhân loại khởi đầu từ gia đình – và đây không phải là một công thức xuông, nhưng là tiếng kêu của niềm hy vọng.
Tháng 12.1996 Ban Giám Đốc chấp nhận cho Ban Mục Vụ Hôn Nhân Gia Đình tổ chức Khánh Nhật kỷ niệm hôn nhân cho các phụ huynh đã trải qua 10, 15, 20, 25, 30, 40, 50, 60 năm hôn phối vào ngày lễ Thánh Gia hàng năm.
Linh Đạo Hôn Phối Phần 3
TÌNH YÊU VỢ CHỒNG: MỘT BÀI PHỤNG CA
1. Tu là cõi phúc, tình là giây oan
2. Yêu là cõi phúc, đền nghì tình Ai
3. Yêu người yêu Chúa, phụng ca một bài
LỜI KẾT
THÁNH GIÁ VÀ KHỔ CỰC CỦA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH
1. Tông huấn ‘Cộng Đồng Gia Đình
2. Lời khuyên của đức Gioan Phaolô II.
3. Thánh giá trong đời sống vợ chồng.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM HÔN NHÂN
1. Hai thời điểm quan trọng: 'tiệc cưới Cana' và 'Bữa tiệc ly'.
2. Sự mật thiết vợ chồng và tính sâu kín Thánh Thể
3. Tiệc cưới Con Chiên
TÓM LƯỢC THẦN HỌC THÂN XÁC THEO ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
1. Chương trình của Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ về sự phối hợp của người nam và người nữ (Mt 19,3-8).
2. Trái tim con người đã bị thương từ tội nguyên tổ (Mt 5,27-28)
3. Hôn nhân là như sự công bố và chuẩn bị ơn phục sinh (Mt 22,23-30).
TÌNH YÊU VỢ CHỒNG: MỘT BÀI PHỤNG CA
của Gs Trần Văn Cảnh
"Hai vợ chồng dần dần cảm thấy giảm bớt về dục vọng, nhưng gia tăng về tự do hiến thân cho nhau, kết hợp với nhau theo nam tính và nữ tính, trong ý nghĩa vợ chồng đích thực của thân xác… Như vậy, đời sống vợ chồng, theo một nghĩa nào đó, trở thành lời phụng ca…" (Đức Gioan Phaolô II, triều yết 04.07.1984).
Trong các đề tài của đời sống con người, có lẽ "tình yêu" là đề tài được nói đến nhiều nhất, trong khắp các thời đại, ở khắp các lục địa, qua khắp các thể loại nghệ thuật và văn chương. Đã là người, ai mà chẳng yêu. Nhưng yêu là gì? Vì sao yêu? Yêu do động lực nào? Yêu vì mục đích nào? Yêu thế nào? Yêu ở đâu? Yêu khi nào? Ai yêu? Yêu ai? Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã lưu ý chúng ta phải "nhớ đến sự đa dạng ý nghĩa của thuật ngữ ‘tình yêu’: chúng ta nói đến tình yêu tổ quốc, tình yêu nghề nghiệp, tình yêu bạn bè, yêu thích việc làm, tình yêu giữa cha mẹ và con cái, giữa anh chị em và thân bằng quyến thuộc, tình yêu tha nhân và tình yêu đối với Thiên Chúa" [28].
Dưới khía cạnh tình yêu vợ chồng, có ba ơn gọi chính: ơn gọi sống khiết tịnh, ơn gọi sống tình yêu vợ chồng và ơn gọi sống góa. Bản thân là một người đã chọn sống ơn gọi tình yêu vợ chồng, muốn tìm hiểu hơn về ơn gọi này hầu giúp mình và giúp những người mình có trách nhiệm phải giúp, trong bài này, người viết chỉ muốn đề cập đến ơn gọi thứ hai là ơn gọi sống tình yêu vợ chồng. Và xin khởi đầu với ba câu hỏi căn bản: Văn hóa Việt Nam ghi khắc gì về tình yêu vợ chồng? Đức tin Công Giáo trao cho tình yêu vợ chồng sứ mệnh gì? Tuyệt đỉnh của sứ mệnh tình yêu vợ chồng Công Giáo đưa về đâu?
1. Tu là cõi phúc, tình là giây oan
Văn chương bình dân Việt nam có một kho tàng phong phú về hấp lực yêu thương, tình ái trai gái.
Bài hát quan họ Bắc Ninh:
"Yêu nhau cởi áo ối à cho nhau,
về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a,
rằng a ối a qua cầu (x2),
tình tình tình gió bay (x2).
"Yêu nhau cởi nhẫn ối a cho nhau,
về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a,
rằng a ối a qua cầu (x2),
tình tình tình đánh rơi (x2).
Yêu nhau cởi nón ối à cho nhau,
về nhà dối rằng cha dối mẹ a..à..a..á..a,
rằng a ối a qua cầu (x2),
tình tình tình gió bay (x2)".
Ca dao bình dân:
"Anh về, em chẳng cho về.
Em nắm vạt áo, em đề tặng anh.
Câu thơ ba chữ rành rành:
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba.
Chữ trung thì để phần cha,
Chữ hiếu phần mẹ, đôi ta chữ tình".
Nhưng về tình yêu vợ chồng, thì chữ tình, chữ yêu lại ít được dùng đến, mà hay dùng những chữ khác, như nghĩa tào khang, chồng hòa, vợ thuận, nhà thường:
"Vợ chồng là nghĩa tào khang,
Chồng hòa, vợ thuận, nhà thường yên vui,
Sinh con mới ra thân người
Làm ăn thịnh vượng, đời đời ấm no".
Dường như về tình yêu vợ chồng, văn chương bình dân, phát xuất từ tâm tình bột phát, của sức sống tự nhiên, đã đè nén cái hấp lực yêu thương tình ái trai gái để khép mình vào khuôn khổ lễ nghi, thuần phong, mỹ tục của văn chương bác học, qua những tư tưởng hướng đạo của ba tôn giáo Phật, Lão, Khổng, mà truyền thống dân tộc đã chịu ảnh hưởng sâu xa.
Đạo Phật do đức Phật Thích Ca Mâu Ni (-623-543) sáng lập, mà nền tảng xây trên Tứ Diệu Đế.
Khổ đế (chân lý về khổ): đời là bể khổ; khổ vì đau khổ, như sinh lão bệnh tử; khổ vì sự thay đổi và khổ vì duyên sinh.
Tập khổ đế (chân lý về nguồn gốc của khổ): nguồn gốc của đau khổ là vô minh, ham muốn.
Diệt khổ đế (chân lý về diệt khổ): muốn diệt khổ phải thắng được vô minh, ham muốn.
Đạo đế (chân lý về con đường thoát khổ): con đường thắng vô minh, ham muốn là con đường tu, là chiêm niệm, từ bi, thờ ơ với phúc họa, để ra khỏi vòng luân hồi của cõi vô thường, tới được niết bàn là nơi thinh không, thanh tịnh không còn ham muốn.
Chữ tình ái, được nói đến trong thập nhị nhân duyên, ở duyên thứ 8 (thụ sinh ái: cảm nhận với thế giới bên ngoài sinh ham muốn) và thứ 9 (ái sinh thủ: ham muốn sinh ra chiếm đoạt), là một trong thập nhị nhân duyên lôi cuốn con người vào vòng luân hồi "vô thường".
"Tu là cõi phúc, tình là giây oan" là câu thơ mà Nguyễn Du đã dùng để diễn tả xác tín Phật giáo của văn hóa Việt Nam rằng con đường tu bát chánh đạo là con đường chân chính đưa vào cõi phúc Niết bàn, nhờ xa lánh trần tục, nuôi tâm dưỡng tính; Còn tình lưu luyến trai gái chỉ là giây oan, vì nó là một ham muốn mãnh liệt, là sợi dây oan nghiệt trói buộc con người vào ham muốn, vô minh, đau khổ.
Đạo Lão do Lão Tử (-604-531) sáng lập, mà những điều căn bản đã được ghi chép trong "Lão Tử - Đạo Đức Kinh". Lão tử bác bỏ thuyết trời sinh ra vạn vật, mà có cái gì khác sinh ra vũ trụ, có trước thượng đế. Cái đó, ông không biết tên là gì, tạm đặt tên cho nó là "đạo" Đạo là "mẹ của vạn vật" (Đạo Đức Kinh, ch.25). Đạo bất biến, vô danh, vô vi. "Đạo sinh ra vạn vật, đức bao bọc, bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở mỗi vật (…); vật chất khiến cho mỗi vật thành hình; hoàn cảnh [khí hậu, thủy thổ] hoàn thành mỗi vật" (Chương 51).
Đạo có ba tính chất là mộc mạc, tự nhiên và quay trở về. "Đạo vĩnh cửu thì không làm gì (vô vi - vì là tự nhiên) mà không gì không làm (vô bất vi - vì vạn vật nhờ nó mà sinh, mà lớn); bậc vua chúa giữ được đạo thì vạn vật sẽ tự biến hóa (sinh, lớn). Trong quá trình biến hóa, tư dục của chúng phát ra thì ta dùng cái mộc mạc vô danh (tính cách, bản chất của đạo)mà trấn áp hiện tượng đó, khiến cho vạn vật không còn tư dục nữa. Không còn tư dục mà trầm tĩnh thì thiên hạ sẽ tự ổn định" (Chương 37). [Đạo] lớn (vô cùng) thì lưu hành (không ngừng), lưu hành (không ngừng) thì đi xa, đi xa thì trở về) (Chương 5).
Đạo có cái gì tương đối và tương phản. "Cái gì hoàn toàn thì dường như khiếm khuyết mà công dụng lại không bao giờ hết; cái gì cực đầy thì dường như hư không mà công dụng lại vô cùng; cực thẳng thì dường như cong, cực khéo thì dường như vụng, ăn nói cực khéo thì dường như ấp úng" (Chương 45). "Đạo trời giống như buộc dây cung vào cung chăng? Dây cung ở cao quá thì hạ nó xuống, ở thấp quá thì đưa nó lên; dài quá thì bỏ bớt đi, ngắn quá thì thêm vào. Đạo trời bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu" (ch.77). "Đạo người thì không vậy [thói thường ở đời thì không như đạo trời], bớt chỗ thiếu mà cấp thêm cho chỗ dư. Ai là người có dư mà cung cấp cho những người thiếu thốn trong thiên hạ? Chỉ có người đắc đạo mới làm được như vậy” (ch.77).
Vấn đề tình yêu trai gái hay vợ chồng không phải là đề tài quan trọng và hầu như không được đề cập đến trong Đạo Đức Kinh. Ông chê những đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, và trung hiếu của đạo Khổng. "Cho nên đạo mất rồi, sau mới có đức. Đức mất rồi sau mới có nhân, nhân mất rồi sau mới có nghĩa, nghĩa mất rồi sau mới có lễ. Lễ là sự biểu hiện của sự suy vi của sự trung hậu thành tín, là đầu mối của hỗn loạn. Dùng trí tuệ mà tính toán trước thì chỉ là cái loè loẹt của đạo, mà là nguồn gốc của ngu muội" (ch.38). Và có một câu gián tiếp nói về gia đình: "Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa; trí xảo xuất hiện rồi mới có trá ngụy; gia đình (cha mẹ, anh em, vợ chồng) bất hòa rồi mới sinh ra hiếu, từ; nước nhà rối loạn mới có tôi trung" (Chương 18).
Đạo Khổng do Khổng Tử (-551-479) sáng lập, có kỳ vọng đảm bảo sự hài hòa tương quan tam tài "thiên, địa, nhân", đặc biệt chú trọng đến trật tự, nề nếp xã hội, dựa vào ngũ luân, ngũ thường. Ngũ luân là năm tương quan: Cha con có tình thân (Phụ tử hữu Thân), Vua tôi có nghĩa (Quân thần hữu Nghĩa), Chồng vợ có sự phân biệt (Phu phụ hữu Biệt), người lớn người nhỏ (anh em) có thứ tự (Trưởng ấu hữu Tự), bằng hữu có lòng tin (Bằng hữu hữu Tín); Ngũ thường là năm nguyên tắc cư xử ở đời: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Qua ngũ luân, ngũ thường, lý tưởng là đạt được chữ trung dung, quân bình giữa hai lực đẩy và hai sức hút, là âm dương. Kinh Dịch viết: "Âm dương giả, thiên địa chi đạo giả, vạn vật chi cương kỷ", nghĩa là "Âm dương là đạo của trời đất, là cương kỷ của vạn vật". Rộng hơn và cụ thể hơn, thì âm dương phải phối hợp mới có trời đất. Khí âm hay sinh, nhưng phải có khí dương mới sinh được; Khí dương hay nuôi vật, nhưng nếu không có khí âm, thì không lớn được. Cho nên, theo luật tự nhiên của trời đất, đã có khí âm, khí dương, ắt phải có đôi lứa vợ chồng. Trai phải có vợ; Gái phải có chồng; Phải phối hợp âm dương thì mới có thể sinh trưởng được. Như vậy, theo Khổng giáo, đời sống vợ chồng là lẽ tự nhiên của trời đất, nguồn gốc đến từ hấp lực đực cái, giống như các sinh vật khác, nhưng được giáo hóa đi vào khuôn khổ luân thường.
Có một tâm hồn thấm nhuần sâu xa tư tưởng âm dương Khổng giáo, Ôn Như Hầu đã viết trong "Cung oán ngâm khúc", từ câu 125 đến 128 về tình yêu vợ chồng rằng:
"Kìa điểu thú là loài vạn vật
Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng
Có âm dương có vợ chồng
Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê".
2. Yêu là cõi phúc, đền nghì tình Ai
Đức tin Công Giáo đã đưa cho tình yêu vợ chồng một ý nghĩa và một vai trò rất cao cả. Thi sĩ bác sĩ Công Giáo Vân Uyên Nguyễn Văn Ái đã tóm gọn rất khéo rằng: "Chữ yêu trong tình nam nữ và vợ chồng, theo Thánh kinh, bắt nguồn từ Thiên Chúa Tình Yêu. Thiên ý mong muốn con người bắt đầu được hưởng cõi phúc ngay tại đời này, qua kiếp sống phu thê và sẽ còn nối tiếp đời đời trong tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu của Thiên Chúa là như vậy. Con người lấy gì đền đáp lại? Chỉ có yêu mới đền đáp được tình yêu. Đó là nguồn thi hứng dẫn đến câu thơ Yêu là cõi phúc, đền nghì tình Ai" [29].
Nhưng Thánh kinh đã viết gì về tình yêu nam nữ và vợ chồng? Bác sĩ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái trả lời qua một bài trình bày như sau [30]:
Trong Cựu Ước theo sách Sáng Thế, ngay từ khi tạo dựng ra trời đất và con người, Thiên Chúa đã chúc phúc cho sự kết hợp nam nữ được coi như có một giá trị tôn giáo độc đáo. Cả nam lẫn nữ, con người được tạo dựng theo hình ảnh giống như Thiên Chúa.
Người nam khi thấy người nữ đã kêu lên: "Đây là xương thịt của tôi". Do đó người nam từ bỏ cha mẹ, lưu luyến người nữ, và cả hai trở thành "nhất thể" (Gn, 1-2), một thân xác (une seule chair).
Nhiều đấng Tiên Tri trong Cựu Ước, như Osée (1,2+), Jérémie (18,1+), Isaïe (1,21), Ezéchiel (16,23),… khi đề cập tới mối liên quan giữa Thiên Chúa và Dân Cựu Do Thái (Israel) đã xử dụng hình ảnh tình yêu nam nữ.
Các tiên tri coi tình yêu của Thiên Chúa đối với dân được chọn (Israel) cũng như tình của người nam. Một người nam vừa hiền từ chung thủy, vừa đòi hỏi, ghen tương. Các tiên tri cũng nói về những phản bội, chối bỏ, tà đạo của dân cựu do thái (Israel) được coi như người nữ bất trung. Có khi còn dùng cả danh từ nặng hơn chữ bất trung.
Nhưng dù vậy, tình của Thiên Chúa cũng không dập tắt, vì Thiên Chúa yêu cho đến cùng (Jn 13, 1)
Khi nói đến tình yêu nam nữ trong Cựu Ước không thể nào không nói tới bài Diễm ca (Cantique des Cantiques), một điệp khúc nói về tình yêu nam nữ thắm thiết và chung thủy.
Lời thơ là lời của người nữ được yêu (la bien aimée) nói về tình yêu của người yêu đối với mình. Theo truyền thuyết, tác giả bài này là vua Salômông. Đây là một bài thơ ngụ ngôn ca ngợi tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Israel, giống như tình yêu nam nữ.
Bài Diễm Ca được trình bày và sắp xếp theo những đoạn đường trở lại và những hy vọng của dân Israel, gồm có 5 bài ca, một phần mở đầu và một phần kết, xen lẫn (theo kiểu kịch thuật Hy Lạp) một vài đoạn đồng ca hoặc song ca đối đáp với người nữ.
Nhiều nhà thần học coi bài Diễm Ca như một bài thánh ca thánh nhất trong các bài thánh ca. Theo tôi, bài Diễm Ca là một bài tình ca tình nhất trong các bài tình ca. Đây chỉ là một cách nói, vì theo đạo của chúng ta, thánh và tình là một, thánh là yêu mà tình cũng là yêu.
Xin nêu làm thí dụ ba câu đầu lời nói của người nữ được yêu (la bien aimée), để có một ý niệm về tính chất diễm tình của bài Diễm ca diễn tả mối tình đắm say cả hồn lẫn xác; ba câu này trích trong cuốn Bible de Jérusalem viết bằng pháp ngữ:
"Qu’il me baise des baisers de sa bouche
Tes amours sont plus délicieuses que le vin
L’arôme de tes parfums est exquis" (Ct, 1, 2-3)
Theo ấn bản Kinh Thánh mới nhất vừa được Tòa Tổng Giám Mục Sài gòn thực hiện năm 1998 (trang 1231) ba câu này được dịch như sau:
"Ước gì chàng hôn ta những nụ hôn chính môi miệng chàng
Ân ái của anh còn ngọt ngào hơn rượu
Mùi hương anh thơm ngát".
Minh châu dịch:
"Môi tìm môi đón nụ hôn tình ái
Ngây ngất say hơn hẳn rượu ngọt bùi
Hương ai tỏa xác hồn xao xuyến mãi".
Vân Uyên dịch:
"Đợi môi âu yếm đến hôn em
kết tình dịu ngọt hơn bồ tửu
Ngây ngất hương người thật ấm êm".
Điểm lạ lùng của chữ yêu trong Cựu Ước là tình yêu nam nữ cả hồn lẫn xác được đặt tận đỉnh cao của tình thiên tính.
Theo Tân Ước, tình yêu nam nữ chỉ tìm thấy toàn vẹn ý nghĩa và đạt tới sự thật, khi qua hôn nhân bí tích trở thành tình yêu vợ chồng.
Trong thơ gửi tín hữu Ephêsô, thánh Phaolô gọi tình yêu vợ chồng là "huyền nhiệm lớn" (grand mystère). Huyền nhiệm đã kỳ lạ. Huyền nhiệm lớn là kỳ lạ trên sự kỳ lạ (Ep 5,32).
Tình yêu vợ chồng được thánh Phaolô so sánh với tình của Chúa Kytô đối với Giáo Hội. Tình yêu vợ chồng, mà thường tình cho là trần tục, trở thành "kỳ lạ trên sự kỳ lạ" vì được coi như mối tình mầu nhiệm không bao giờ phai, kéo dài vô tận trong thời gian, của "Thiên Chúa làm người", kết hợp với "nhiệm thể" của mình là Giáo Hội (Ep 5, 23-25).
Như vậy, tình yêu vợ chồng trở thành như một trong những trung tâm điểm của đức tin. Nói cách khác, tình yêu vợ chồng khi đạt tới mức "yêu" cũng là một con đường dẫn tới Thiên Chúa, dẫn tới cõi phúc.
Theo Tân Ước, nhiều lần Chúa Kytô đã ví nước Trời như một Tiệc Cưới và tự ví mình như chàng rể (Mt 9,15; 22,1-14; 25,1-13; Ga 3,29).
Chúa Kitô đã giảng về tính chung thủy gắn bó, không có gì có thể phân chia của tình vợ chồng trong hôn nhân bí tích. Theo Phúc Âm của thánh Matthêu, Chúa Giêsu đã nói: "Vợ chồng không còn là hai mà là một. Những người Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được chia rẽ" (Mat 19,6).
Đối với người đời xưa cũng như đời nay, những lời nói này thật không phải dễ hiểu và dễ chấp nhận. Chính những môn đệ của Chúa Kytô cũng đã thốt lên: "Nếu số phận của người nam phải đối xử với vợ như vậy, thà đừng kết hôn còn hơn". Và Chúa Kytô đã trả lời « Không phải ai cũng hiểu được. Chỉ có kẻ Chúa cho hiểu mới hiểu" (Mat 19, 10-11).
3. Yêu người yêu Chúa, phụng ca một bài
"Thiên Chúa là Tình yêu", thông điệp của Đức Giáo Hoàng Bênêdictô XVI ban hành tại Rôma, tại Đền Thánh Phêrô, ngày 25.12.2005, có lẽ đã là cách Chúa cho chúng ta hiểu hơn về tình yêu hôn nhân (eros) toàn vẹn cả hồn lẫn xác, có thể dẫn tới tình yêu bác ái (agape) của Giáo Hội mà đưa ta tới Thiên Chúa, tới cõi phúc.
Yêu chồng, yêu vợ mặn mà
Yêu người yêu Chúa, cùng là bài ca.
Vợ chồng "nhất thể" đôi ta
Yêu người yêu Chúa, phụng ca một bài
Thông điệp được chia làm hai phần. Phần I nói về "Sự thống nhất của tình yêu trong sáng tạo và lịch sử cứu độ". Phần II nói về "tình yêu bác ái và hoạt động bác ái của Hội Thánh như là một cộng đoàn của tình yêu". Đức ông Giuse Mai Đức Vinh đã tóm tắt thông điệp như sau cho khóa Gặp Gỡ Huấn Luyện Giới Trưởng Thành lần thứ XIII, từ 21 đến 24, tháng 05, năm 2009 tại Orsay, ngoại ô Paris [31]:
Phần I: Đức Thánh Cha xác định một số dữ kiện thiết yếu liên quan đến tình yêu mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại một cách huyền nhiệm và nhưng không. Những dữ kiện đó là:
1. 'Tình yêu' bộc lộ dưới nhiều hình dạng (yêu nước, yêu nghề, yêu bạn bè… yêu Chúa). Nhưng mọi hình dạng đều quy về một tình yêu duy nhất và hoàn toàn trổi vượt, đó là Tình Yêu nơi Thiên Chúa (số 2).
2. Ba hình dạng chính yếu của tình yêu là (số 3):
- ‘tình ái’ (eros): tức là tình yêu giữa một người nam và một người nữ. Trong Tân Ước ít nói đến dạng thức tình yêu này
- ‘tình bạn’ (Philia): tức tình yêu bằng hữu giữa người này với người khác. Trong Tân Ước, đặc biệt trong Tin Mừng Thánh Gioan nói đến một cách sâu sắc về tình yêu bạn hữu giữa Chúa Giêsu và các môn đệ (x Ga 15 tt).
- ‘tình bác ái’ (Agape): tức là tình yêu có phẩm tính sâu sắc, phổ quát, siêu nhiên, vị tha… Các Tân Ước đều dùng nhiều dạng thức tình yêu này.
3. Đức Thánh Cha nói riêng về ‘tình ái’ (Eros) (số 4-5): Văn hóa Hy lạp đề cao dạng tình yêu này, coi tình yêu này là mãnh lực mạnh nhất (Omnia vincit amor, et nos cedamus amori). Nhiều tôn giáo ‘suy tôn khả năng sinh sản’, ‘tục mại dâm thiêng liêng trong các đền thờ’ đều coi tình ái như một thứ quyền lực thiêng liêng, ngang hàng với Thiên Chúa. Cựu Ước cực lực chống lại chủ trương trên đây của tôn giáo này, coi đó là tiêu biểu cho một cám dỗ chống lại đức tin độc thần và chống lại nó như một hình thái sa đọa tôn giáo. Tuy nhiên Cựu Ước không hề loại bỏ tình ái (eros) đúng nghĩa… Vì khi được uốn nắn và thanh luyện, tình ái dẫn con người đến gần với Thiên Chúa… Khi nói về tình ái (eros), người ta nghĩ đến thân xác, đến dục tính… và người ta chỉ trích Kitô Giáo trong quá khứ, đã coi thường và khinh bỉ thân xác và dục tính... Tuy nhiên, phải khẳng định: lối tôn sùng thân xác ngày nay là một sai lầm, vì nó đã biến thân xác và tình dục thành đồ vật mua bán, và chính con người cũng trở thành ‘món hàng’ thương mại (số 4-5).
4. Ngài cũng nói riêng về ‘tình bác ái’ (Agape) tiêu biểu cho ý niệm tình yêu trong Thánh Kinh. Tình bác ái (agape) và tình ái (eros) không tách rời nhau hoàn toàn, nhưng tình bác ái (agape) vượt lên trên tình ái (eros), thay vì tình ái ích kỷ, chỉ đi kiếm ‘điều lợi cho mình’, thì tình bác ái (agape) lo tìm điều tốt, điều lợi cho người mình yêu, nó sẵn sàng từ bỏ và chấp nhận hy sinh. Nói cách khác, tình ái (eros) là tình yêu ‘trần thế’ (mondain), còn tình bác ái (agape) là tình yêu lấy đức tin làm cơ sở. Tình ái (eros) thì hẹp hòi, tạm bợ, còn tình bác ái (agape) rộng mở và lâu bền. Tình bác ái (agape) chính là tình ái (eros) được siêu nhiên hóa, nhân bản hóa, được mở rộng cho mọi người và đến với mọi người… như giáo huấn của thánh Phaolô: "Ai kết hợp với Chúa Giêsu (eros), thì trở nên cùng một thần trí với Ngài (agape)" (1Cr6,17). Sau cùng tình bác ái (agape) diễn tả huyền nhiệm của bí tích Thánh Thể, trong đó Chúa Giêsu hoàn toàn hiến thân (agape) cho nhân loại… (số 6-11)
5. Chúa Giêsu, hiện thân của tình yêu Thiên Chúa: ‘Thiên Chúa là Tình Yêu, Thiên Chúa yêu chúng ta trước và đã ban Đức Giêsu, con chí ái của Ngài cho chúng ta. Do đó, Chúa Giêsu là hiện thân tình yêu của Thiên Chúa giữa chúng ta (tam cùng với chúng ta): cùng sống, cùng hoạt động và cùng yêu với chúng ta… Và như vậy, Thiên Chúa gia tăng niềm vui, Thiên Chúa trở thành niềm vui cho chúng ta… Niềm vui này chúng ta có thể múc lấy mỗi ngày nơi Bí Tích thánh Thể… và như vậy, vì yêu chúng ta, ‘Thiên Chúa trở nên tất cả trong mọi sự’ (1Cr 15,28) cho chúng ta. Đó là tình yêu Agape tuyệt hảo! (số 12-18)
Phần II: Đức Thánh Cha nói về những thể hiện tình bác ái (agape) cụ thể trong Hội Thánh, theo giới răn ‘yêu thương người ta như chính mình’ (Mc 15, 31). Dĩ nhiên không thể nói hết, Đức Thánh Cha chỉ ‘nói đến một số yếu tố căn bản để khơi dậy trong thế giới một năng động mới mẻ mà con người hay chính Giáo Hội phải thực hiện hầu đáp trả lại tình yêu của Thiên Chúa’. Vì thế, Giáo Hội là một Cộng đồng yêu thương, thể hiện tình yêu. Đức Thánh Cha nêu bật những điểm sau đây:
1. Hoạt động bác ái của Hội Thánh là thể hiện tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi: Vì thế thánh Aucơtinh viết: "Tìm thấy tình bác ái (agape) là nhìn thấy Thiên Chúa Ba Ngôi" (19).
2. Bác ái là nhiệm vụ của Hội Thánh (20-25):
- Bác ái là nhiệm vụ của mỗi tín hữu, nhưng cũng là nhiệm vụ của toàn thể cộng đoàn Giáo Hội, từ cộng đoàn địa phương, đến Giáo Hội địa phương, và đến Giáo Hội hoàn vũ. Giáo Hội đã ý thức nhiệm vụ này ngay từ buổi đầu: ‘Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, để mọi sự làm của chung… (Cv 2,44-45). Theo thánh Luca, những yếu tố cấu thành của Hội Thánh bấy giờ là: Lời rao giảng của các tông đồ, hiệp thông, bẻ bánh, cầu nguyện (số 20).
- Hoạt động bác ái đòi hỏi những thừa tác mới: chức phó tế (diaconia) (Cv 6,5-6) phụ tá các tông đồ trong việc ‘phục vụ việc cầu nguyện, phục vụ Lời Chúa, phục vụ bàn ăn’ (Cv 6,1-6) (21).
- Ba hoạt động, ba nhiệm vụ: Tiệc Thánh Thể – Tiệc lời Chúa – Hoạt động bác ái (agape): lo cho quả phụ, trẻ mồ côi, bệnh nhân, tù đầy… (số 22). Nói cách khác, bản tính xâu xa nhất của Hội Thánh được diễn tả qua ba nhiệm vụ: Loan báo lời của Thiên Chúa (Kerygma-martyria), cử hành các Bí tích (leitourgia), và thi hành tác vụ bác ái (diakonia) (số 23-24).
- Ba nhiệm vụ bổ túc cho nhau, gắn liền với nhau làm cho Hội Thánh trở thành gia đình của Thiên Chúa, đại gia đình đức tin (Gl 6,10) (số 25).
3. Bác ái không đủ, còn phải có công bằng: từ thế kỷ XIX, người ta chống lại hoạt động bác ái của Hội Thánh, nhất là thuyết Maxít, người ta bảo: người nghèo không cần đến bác ái nhưng cần công bằng…
-- Vì thế Giáo Hội ra các thông điệp xã hội: Đức Lêo ‘Rerum Novarum’961), (1891), Piô XI ‘Quadragesimo Anno’ (1931), Gioan XXIII ‘Mater et Magistra’, Phaolô VI ‘Populorum’ (1967), Octogesima Adveniens’ (1971), Gioan Phaolô II ‘Laborem Exercens’ (1981), ‘Sollicitudo Rei Socialis’ (1987). Hội Đồng Công Lý Hòa Bình ‘Cuốn tóm lược giáo huấn xã hội của Hội Thánh’ (2004).
- a) Công bằng (justitia): Nguyên tắc ‘Công bằng xã hội’: Của Xêsa trả cho Xêsa, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa (Mt 22,21). Giáo Hội và Quốc Gia vừa tách biệt vừa tương quan với nhau… theo những xác định của Công Đồng Vatican II trong Hiến Chế Mục Vụ (GS 74, 68, 42) (số 28).
-- Về ‘công bằng xã hội’, Hội Thánh không thay thế chính trị hay chính quyền, nhưng Hội Thánh không đứng ngoài lề cuộc đấu tranh cho công bằng.
- b) Tình yêu (Caritas) luôn là cốt lõi của xã hội, dù là xã hội công bằng nhất. Vì thế một xã hội, một quốc gia hay một khuynh hướng muốn loại bỏ tình yêu,… là loại bỏ chính con người. Con người không chỉ sống bằng cơm bánh… Phục vụ con người không phải chỉ chăm lo về thân xác, nhưng còn cả về tinh thần, bồi dưỡng con người không chỉ bằng những yếu tố vật chất, nhưng còn bằng những yếu tố tinh thần… Vật chất hay tinh thần đều sắc đọng trong TÌNH YÊU.
-- Tuy nhiên việc hình thành các cơ cấu công bằng không trực tiếp là nhiệm vụ của Hội Thánh, nhưng thuộc lãnh vực chính trị, lãnh vực Quốc gia hay Nhà Nước (luật pháp, kinh tế, xã hội, hành chánh, nghiệp đoàn…). Với tư cách công dân, người tín hữu có bổn phận hợp tác và tuân thủ đúng đắn…
-- Mặt khác các tổ chức bác ái của Hội Thánh làm thành một công trình riêng (opus proprium), và hoạt động ngay giữa lòng quốc gia, xã hội. Hội Thánh không bao giờ được miễn trừ hoạt động bác ái, trong mọi hoàn cảnh, việc bác ái của người tín hữu luôn là cần thiết (số 29).
4. Nhiều cơ cấu bác ái trong xã hội hiện nay: Vài nét tổng quát của cuộc tranh đấu công bằng và tình yêu hiện nay trên thế giới:
- a) Phương tiện truyền thông thu hẹp trái đất, dù có hiểu lầm và căng thẳng, nhưng tin tức mau lẹ, giúp đỡ liên đới mau chóng (động đất, tai uơng…). Một bằng chứng tích cực về tiến trình toàn cầu hóa: Nhờ phương tiện truyền thông, khoảng cách giữa con người không còn nữa, những hoạt động bác ái có thể và phải bao gồm mọi người và mọi nhu cầu.
- b) Bối cảnh xã hội và chính trị hiện nay đã khai sinh và tăng trưởng nhiều hình thức thiện nguyện (quốc gia, Giáo Hội, tư nhân) và nhiều hình thức cộng tác giữa các Quốc gia và các cơ quan từ thiện của Giáo Hội với dồi dào kết quả. Với sứ mệnh làm chứng về Tình Yêu Thiên Chúa, tổ chức bác ái của Giáo Hội đem phẩm tính Kitô giáo cho các tổ chức của chính phủ hay của tư nhân, ngược lại các tổ chức của quốc gia giúp tổ chức của Hội Thánh có thêm phương tiện và hiệu lực…
5. Khía cạnh riêng biệt của hoạt động bác ái của Hội Thánh (31).
-- Nguồn gốc: Thiên Chúa là tình yêu… (1Ga 4,8); Yêu thương người khác như chính mình… (Mc 12,31). Tám mối phúc thật… (Mt 4,3-12). Xét xử theo luật bác ái (Mt 25,31).
-- Tổ chức Caritas quốc tế hiện nay… quy tụ cơ cấu, tài lực, nhân sự, phương án…
-- Hoạt động bác ái Kitô giáo phải độc lập với các phe nhóm và ý thức hệ… Hoạt động bác ái phải thể hiện tình liên đới và hiệp nhất giữa cá nhân, trong cộng đoàn, ngoài xã hội…
-- Hoạt động bác ái không được xử dụng như kế hoạch chiêu dụ tín đồ… (31)
6. Những ngưòi chịu trách nhiệm về hoạt động bác ái của Hội Thánh.
-- Là chính Hội Thánh, cụ thể từ thời Đức Phaolô VI là Hội Đồng Giáo Hoàng Đồng Tâm (Cor Unum). (x. Giáo luật Đ 394). Luôn nhân danh Giáo Hội, luôn phải có sự phối hợp theo cấp bậc hoạt động (32).
-- Không lấy cảm hứng từ các ý thức hệ với mục tiêu là cải tiến trần gian, nhưng luôn luôn ‘tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng ta’ (2Cr5,14) (33).
-- Không thể không cộng tác với các tổ chức khác… tuy nhiên luôn giữ vững căn tính ‘tình yêu Chúa thúc đẩy chúng ta…’ (34)
-- Phải phục vụ trong khiêm tốn… ‘chúng ta chỉ là đầy tớ vô dụng’ (Lc 17,10) (35).
-- Cần giữ quân bình giữa hai cực đoan: - tham vọng muốn làm hết, làm ngay, không đo sức mình… - cám dỗ đầu hàng, khoanh tay… (36)
-- Yếu tố giúp giữ quân bình: lòng đạo đức, việc cầu nguyện (gương chân phước Têrêsa Calcutta) (số 36-37). Cầu nguyện để ‘giải tỏa’ những thắc mắc theo kiểu ông Gióp (xG 23,3+5-6+15-16), lời than của chính Chúa Giêsu trên Thánh Giá (Mt 27,46), lời sách Khải Huyền (kh 6,10)… và để giữ vững niềm tin, đức cậy và lòng bác ái (số 38-39).
LỜI KẾT
Văn hóa Việt Nam ghi khắc gì về tình yêu vợ chồng? Đức tin Công Giáo trao cho tình yêu vợ chồng sứ mệnh gì? Tuyệt đỉnh của sứ mệnh tình yêu vợ chồng Công Giáo đưa về đâu?
Về câu hỏi thứ nhất, chúng ta đã tìm được câu trả lời của văn hào Nguyễn Du rằng: "Tu là cõi phúc, tình là giây oan". Văn chương bình dân Việt Nam rất phong phú về tình yêu trai gái và tình yêu thân xác. Văn chương truyền thống tam giáo Lão, Phật, Khổng, thì hoặc là không nói đến tình yêu vợ chồng, hoặc là nói đến như một nhân duyên của cõi vô thường, hoặc nói đến những ngũ luân ngũ thường như những luật lệ để đối xử với nhau, hầu giữ gìn tôn ti trật tự trong gia đình và ngoài xã hội; còn tình yêu vợ chồng, thì đó chỉ là lẽ tự nhiên của trời đất, nguồn gốc đến từ hấp lực đực cái, giống như các sinh vật khác, nhưng phải được giáo hóa để đi vào khuôn khổ luân thường.
Về câu hỏi thứ hai, bác sĩ Vân Uyên Nguyễn Văn Ái đã trả lời thay cho chúng ta rằng: "Yêu là cõi phúc, đền nghì tình Ai", vì tình yêu vợ chồng là một bí tích trao truyền lại cho thế giới hữu hình cái mầu nhiệm vô hình được che đậy nơi Thiên Chúa từ đời đời. Đó là mầu nhiệm về chân lý và về tình yêu, mầu nhiệm của cuộc sống thiên tính, mà loài người được thực sự chia phần. Mầu nhiệm đó là mầu nhiệm "Thiên Chúa là Tình Yêu", yêu bất chấp sự đau khổ và sự chết. Tình yêu vợ chồng, khi đạt tới mức yêu, cũng là một con đường dẫn tới cõi phúc, yêu để đền nghì tình Chúa yêu ta (Ai là Thiên Chúa).
Trả lời câu hỏi thứ ba, chúng ta đã tìm được cánh cửa đức tin mở lối qua thông điệp "Thiên Chúa là Tình yêu" của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, giúp ta hiểu rằng tuyệt đỉnh của sứ mệnh tình yêu đầy đủ hồn xác của bí tích vợ chồng Công Giáo đưa ta từ tình yêu người bạn đời đến tình yêu mọi người và đến đáp trả tình yêu Thiên Chúa, mà chúng ta tóm gọn trong bốn câu thơ:
Yêu chồng, yêu vợ mặn mà
Yêu người yêu Chúa, cùng là bài ca.
Vợ chồng "nhất thể" đôi ta
Yêu người yêu Chúa, phụng ca một bài
Tình yêu vợ chồng, đầy đủ hồn xác, đưa ta đến hạnh phúc, đến tình yêu bác ái với mọi người và đến tình yêu Thiên Chúa. Điều này cũng dễ hiểu, vì tình yêu vợ chồng đầy đủ hồn xác là một tình yêu toàn diện, là một dâng hiến về thân xác, một hiệp thông về tình cảm, một tha thứ chịu đựng theo lý trí, một hòa thuận theo ý chí và một tâm tình kính yêu của con tim. Tất cả tình yêu vợ chồng toàn diện này, cũng như tất cả các tình yêu bác ái với mọi người, tình yêu với Thiên Chúa đều là bài ca, một bài ca phụng tự. Tình yêu vợ chồng toàn diện này, nói theo Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, là "Bí tích các thân xác", "bí tích trọng đại", "không chia cắt điều Chúa đã nối kết" và là "Ơn gọi các thân xác" [32].
Paris, ngày 30 tháng 03 năm 2014
------------------------------
[28] ĐGH Bênêđictô XVI, Thiên Chúa là Tình yêu, 2005, số 2.
[29] Nguyễn Văn Ái: Chữ tình và chữ yêu; trong "Đường vào tình yêu", Giáo Xứ Việt Nam Paris, 2000, tr. 255-265).
[30] Ibidem.
[31] Lm Mai Đức Vinh: Tìm hiểu thông điệp Thiên Chúa là Tình Yêu; trong Trần Văn Cảnh: Công Giáo Việt Nam tại Pháp, 226 năm hành trình Đức Tin, 1784-2010; 2011, tr. 164-170
[32] Yves Semen, La Spiritualité conjugale selon Jean-Paul II, Ed. Presse de la Renaissance, Paris 2010, pp. 55-67.
THÁNH GIÁ VÀ KHỔ CỰC CỦA ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH
của Ls Lê Đình Thông
"Người chồng và người vợ phải phục tùng lẫn nhau, tương nhượng lẫn nhau (…) Cộng đoàn hay đơn vị họ kiến tạo trong đời sống hôn phối của họ, chỉ được thể hiện trong sự trao ban tương hỗ, nghĩa là hai người phục tùng lẫn nhau" (Đức Gioan-Phaolô II, buổi triều yết 11.8.1982)
1. Tông huấn ‘Cộng Đồng Gia Đình
Thánh Gioan-Phaolô II là thánh nhân của các gia đình Công Giáo. Vào đúng ngày bị ám sát hụt (13/5/1981), ngài đã thành lập Hội đồng Giáo hoàng về Gia đình. Ngày 22/11/1981, ngài công bố Tông huấn Familiaris consortio. "Consortio": "partnership" trong tiếng Anh, có thể chuyển ngữ là "đồng hội đồng thuyền". Ngoài ra còn có Học viện Gioan-Phaolô II về Gia đình nữa. Chính đức Gioan-Phaolô II từng nói ngài muốn người ta nhớ đến ngài như vị giáo hoàng của gia đình.
Tông huấn ‘Cộng Đồng Gia Đình’ (Familiaris consortio) đề cập đến nhiều vấn đề ngày nay vẫn còn mang tính thời sự: vai trò của gia đình trong việc phúc âm hóa, ơn gọi tình yêu của gia đình, ơn gọi truyền giáo của gia đình, mục vụ gia đình.
Trong phần gia đình trong thế giới ngày nay, tông huấn cho biết gia đình có hai mặt tích cực và tiêu cực:
Ÿ Tích cực, vì ngày nay ta quan tâm hơn về sự liên hệ vợ chồng trong đời sống hôn nhân, nhân phẩm phụ nữ được thăng tiến, việc sinh đẻ có trách nhiệm, vấn đề giáo dục con cái, sự liên hệ giữa các gia đình với nhau để giúp nhau về mặt tinh thần cũng như vật chất.
Ÿ Tiêu cực, vì vợ chồng có ý nghĩ sai lầm về sự độc lập của mỗi người, về sự liên hệ giữa cha mẹ và con cái. Số ly hôn gia tăng, số phá thai, việc làm tuyệt sinh sản, vấn đề ngừa thai…
Các hiện tượng tiêu cực phần lớn vì lứa đôi không hiểu đúng về tự do của mỗi người, khiến đời sống gia đình thường bị lục đục.
Ở Việt Nam, gia đình thiếu cơm ăn, áo mặc, nhà cửa chật chội, thiếu thuốc men v.v. cũng là nguyên nhân gây ra bất hòa. Tại Pháp, đời sống quá sung túc, lúc nào cũng chỉ lo mua sắm khiến ta lo lắng không biết tương lai sẽ ra sao. Tình trạng này là sự pha trộn giữa ánh sáng và bóng tối. Theo thánh Augustinô, đó là sự xung đột giữa yêu Chúa và sự ích kỷ không kể gì đến Thiên Chúa.
Sống trong một thế giới như vậy, dưới ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông, nhiều khi các gia đình Công Giáo không ý thức rằng các giá trị căn bản bị lu mờ mà không tạo được tinh thần nhân bản trong gia đình.
Ngày nay, một số gia đình cử hành bí tích hôn nhân cho có lệ mà không sống đạo thực sự. Ngoài ra, họ không được hướng dẫn về đời sống tính dục trong hôn nhân Công Giáo. Vì vậy, Giáo Hội, gần nhất là Giáo Xứ, cần tìm một phương hướng để gia đình nhận ra các giá trị thực sự. Học thuyết nhân bản mới hướng dẫn gia đình đến với Chúa.
Ngoài tông huấn Cộng Đồng Gia Đình, mỗi khi tiếp các gia đình, đức Gioan-Phaolô II thường khuyên nhủ các cặp vợ chồng. Trong cuộc tiếp kiến ngày 11/8/1982, ngài nói như sau: "Vợ chồng phải nhường nhịn nhau, phải nghe lời nhau. Gia đình hôn nhân là cho nhau và phục tùng lẫn nhau".
Ca dao ta có câu:
Con quốc khắc khoải mùa hè
Làm thân con gái phải nghe lời chồng
Sách cho chữ rằng: phu xướng phụ tòng
Làm thân con gái lấy chồng xuất gia
Lấy em về thờ mẹ kính cha
Thờ cha kính mẹ ấy là người ngoan
Câu thơ này chỉ đúng một nửa. Ngày xưa phu xướng phụ tòng. Còn ngày, phu phụ xướng, phu phụ tòng, đức Gioan-Phaolô II gọi là phục tùng lẫn nhau (soumission réciproque). Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội thánh để làm khuông vàng thước ngọc cho sự phục tùng lẫn nhau: "Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau". (Ep, 4,2)
2. Lời khuyên của đức Gioan Phaolô II.
Lời khuyên của đức Gioan-Phaolô II dựa trên Kinh thánh: "Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ. Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là điều đẹp lòng Chúa. Những bậc làm cha mẹ đừng làm cho con cái bực tức, kẻo chúng ngã lòng". (Cl 3,18-21).
Đức Gioan-Phaolô II diễn giảng như sau: "Vợ chồng phải phục tùng lẫn nhau để thực hiện sự viên mãn trong chân lý hôn nhân. Đó không phải là sự nhường bước cho trào lưu nam nữ đồng đều. Ngài đưa ra nguyên tắc này dựa trên Kinh Thánh. Người vợ vâng phục chồng vì tìm thấy tương quan với Chúa Kitô: ‘‘Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Ðức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh". (Ep 5,25) Tình yêu của Thiên Chúa dành cho Hội thánh là hy sinh đến độ hiến mình trên thập giá.
Vợ chồng phải phục tùng nhau vì tình yêu đã kết hợp họ nên một. Trong nghi thức hôn phối, đôi tân hôn cầm tay nhau, rồi bên nam nói:
-- "Anh T... nhận em T... làm vợ, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời anh”.
Bên nữ đáp lại:
-- "Em T... nhận anh T... làm chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng anh mọi ngày suốt đời em”.
Cả hai đều nói câu yêu thương và tôn trọng. Đức Gioan-Phaolô II mệnh danh là tình yêu phục tùng nhau. Ngài còn nói thêm tình yêu vợ chồng loại bỏ việc người vợ phải phục tùng chồng như người làm mà không có qua có lại. Vợ chồng cần nói với nhau rằng "Không phải là ý anh, mà là ý em”, noi gương Chúa Kitô tại vườn Oliu: "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin tha cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha”. (Lc 22,42)
3. Thánh giá trong đời sống vợ chồng.
Đó chính là thánh giá của đời sống vợ chồng, trong những cảnh ngộ éo le của cuộc sống. Nhưng đó còn là niềm vui khi vợ chồng biết hy sinh cho nhau, cũng như sau Thập giá, Chúa Kitô hưởng niềm vui nước Trời: "Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con”. (Gn 17,13)
Thánh giá trong đời sống vợ chồng, vì sự hy sinh không trọn vẹn hoặc đồng đều. Vợ hoặc chồng cảm thấy đau khổ vì không có khả năng hy sinh hoàn toàn. Vợ hoặc chồng phải chịu vết thương lòng vì sự bạo hành trong đời sống tình cảm hoặc trong chăn gối.
Cuộc sống cực nhọc cũng ảnh hưởng đến sự hy sinh, sự lo lắng giáo dục con cái, bệnh tật, tinh thần sa sút. Nhưng còn là sự biếng nhác, ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, sự tức giận… Nhiều khi ta hy sinh hoàn toàn nhưng nhận lại chẳng được bao nhiêu cũng khiến ta cực lòng. Cũng có khi ta hy sinh không tính toán, trong khi người khác lợi dụng nhỏ nhen, ích kỷ. Thánh giá trong cuộc sống gia đình gì khác hơn là yêu mà không được đáp lại, là hy sinh mà không được đền bù.
Thánh giá trong đời sống vợ chồng là sự thất bại của hôn nhân. Ta có thể chịu trách nhiệm về thất bại này, nhưng sự thất bại không phải là đơn phương: ích kỷ, ngoại tình, chểnh mạng, uể oải trong yêu đương.
Trong kịch bản Tiệm Kim hoàn, đức Gioan-Phaolô II đã thác lời Anna, người phụ nữ này bị đổ vỡ trong cuộc sống hôn nhân với Stêphanô: "Stêphanô không ở chung với tôi nữa. Tại sao không ai hàn gắn sự yên lặng này. Dường như Stêphanô chịu trách nhiệm. Tôi nhận thấy tôi không có lỗi. Cuộc sống của tôi thật là cực khổ. Chúng tôi xa nhau dần. Lúc này chỉ còn là bổn phận chập chờn”. Vào hồi kết cục, Stêphanô và Anna khỏi phải xa nhau chỉ trong đường tơ kẽ tóc.
Trong cuộc sống, nhiều khi cũng có cơn sóng thần vì bị chấn thương tâm lý, bị tai nạn, tinh thần sa sút, thất bại trong công ăn việc làm… Ta thường đổ lỗi vì không ai thấy trước được. Cách suy nghĩ này nhiều khi quá đơn giản, trong khi thực tế lại quá phức tạp. Một số người tính đến chuyện xin Giáo Hội hủy phép hôn phối. Ta cần nhận rằng dù là thất bại nhưng phép hôn phối vẫn có hiệu lực.
Trong tông huấn Cộng Đồng Gia Đình, đức Gioan-Phaolô II đã mời gọi các vị chủ chăn và cộng đoàn dân Chúa giúp đỡ các người ly dị tái hôn, với tấm lòng bác ái, để họ không cảm thấy bị tách ra khỏi Giáo Hội. Họ là những người đã chịu phép rửa nên phải được dự phần vào cuộc sống. Ước mong Giáo Hội cầu nguyện cho họ, giữ họ trong đức tin và đức cậy.
BÍ TÍCH THÁNH THỂ, MẦU NHIỆM HÔN NHÂN
của AC Vũ Khiêm Đào.
"Bí tích Thánh Thể chính là nguồn mạch của hôn nhân Kitô giáo... Chính trong hy lễ của Giao ước mới và vĩnh cửu ấy mà các đôi bạn Kitô hữu tìm được nguồn mạch tuôn trào làm cho giao ước hôn nhân của họ được khuôn đúc từ bên trong và được sinh động bền bỉ".
ĐGH Gioan Phaolô II, Familiaris Consortio, n° 57
1. Hai thời điểm quan trọng: 'tiệc cưới Cana' và 'Bữa tiệc ly'.
Toàn bộ Tin Mừng của Thánh Gioan, vị tông đồ của tình yêu, bằng cách nào đó được đóng khung bởi hai thời điểm quan trọng, đó là hai bữa tiệc biểu lộ một sự thật hết sức thiêng liêng mà các đôi vợ chồng được mời gọi đến thưởng thức, suy gẫm và để chiêm ngưỡng ngay cả trong sự kết hợp mật thiết của họ: “Tiệc Cưới Cana” và “Bữa Tiệc Ly”.
Không phải là một trùng hợp ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu đã chọn để bắt đầu cuộc đời công khai của mình bằng một phép lạ trong tiệc cưới Cana, miền Galilê. Theo yêu cầu của Đức Trinh Nữ Maria: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3), Chúa Giêsu đưa ra một câu trả lời dường như kỳ lạ, theo bản kinh thánh bằng tiếng La tinh của Thánh Giêrômi: “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến bà và con?” (Ga 2,4). Trong chú giải về Phúc Âm, Dom Delatte cho ta thấy một sự giải thích đúng đắn của câu trả lời đó, sau khi loại trừ tất cả những giải thích có xu hướng nhìn thấy trong đoạn văn này ý Chúa Giêsu muốn thiết lập một khoảng cách với mẹ của mình. Chúng ta có thể hiểu đúng được những lời trìu mến sau đây của Chúa Giêsu muốn nói với mẹ Ngài: "Chưa, hãy để con, hãy chờ đợi, giờ của con chưa đến".
Giờ mà Chúa Giêsu gợi lên là giờ của cuộc Tử Nạn của mình, được bắt đầu với những lời sau đây: “Lạy Cha, giờ đã đến! Xin Cha tôn vinh Con Cha” (Ga 17,1). Hai khoảnh khắc phù hợp với nhau, khi bắt đầu cuộc đời công khai của Chúa Giêsu và trước khi Ngài chết trên thập giá, trong cả hai trường hợp Chúa Giêsu gọi mẹ của Ngài: "Bà", “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26), qua đó nói lên ý nghĩa làm mẹ phổ quát của Mẹ Maria. Nhưng cần lưu ý rằng: lời cầu nguyện trọng thể của Chúa Giêsu trước khi bước vào cuộc Tử Nạn, diễn ra sau khi đã cử hành lễ Vượt Qua cuối cùng với các môn đệ. Chính trong Bữa Tiệc Ly này, Chúa Giêsu đã lập ra bí tích Thánh Thể, ban ơn cứu chuộc cho Giáo Hội của Ngài, nhờ sự dâng hiến chính Mình và Máu Ngài cho đến tận cùng. “Tiệc Cưới Cana” và “Bữa Tiệc Ly”, hai điểm đầu và cuối trong Tin Mừng của Thánh Gioan, là hai bữa tiệc cưới...
Bí tích Thánh Thể là một bữa tiệc cưới của Chúa Kitô-Hôn Phu và Giáo Hội-Hiền Thê. Tại tiệc cưới Cana, tuy giờ của Chúa Giêsu chưa đến, nhưng Ngài loan báo trước giờ lễ cưới của Hôn Phu với Giáo Hội-Hiền Thê và bí tích Thánh Thể là một tặng phẩm của quà cưới. Trong bữa tiệc Thánh Thể Chúa Giêsu tự hiến mình, trở thành lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng Hội Thánh của Ngài. Sự dâng hiến đến tận cùng của Thiên Chúa làm người để nhân loại được sống và sống dồi dào. Đó là tình yêu Thánh Thể. Đức Gioan Phaolô II đã nói: "Sự tự hiến đó cho Chúa Cha, bằng cách vâng phục cho đến chết, cũng đồng thời vì ‘Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh’ (Ep 5,25). Trong sự biểu hiện này, tình yêu cứu chuộc biến thành tình yêu phu thê, Đức Kitô, trong khi tự hiến mình cho Hội Thánh, cũng qua hành động cứu chuộc ấy, Ngài kết hợp mãi mãi với Hội Thánh, như Hôn Phu kết hợp với Hôn Thê, như chồng với vợ, bằng sự hiến thân trọn vẹn cho Hội Thánh một lần cho tất cả". (Tiếp kiến chung ngày 18/08/1982)
Bản tính sâu xa nhất của nền tảng hôn nhân Kitô giáo, chính là hình ảnh cuộc hôn nhân nhiệm mầu của Đức Kitô với Hội Thánh. Thư gửi tín hữu Êphêsô của Thánh Phaolô (Ep 5,22-33) mạc khải cho chúng ta sự thật cốt yếu về hôn nhân, từng là bức thư được đọc trong các lễ cưới. Một đàng, nó giúp ta hiểu rõ hơn mầu nhiệm hôn nhân giữa Đức Kitô và Hội Thánh, “Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Ðức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5,32). Đàng khác, nó giúp ta đi sâu vào bản chất của hôn nhân. Hôn nhân là ơn gọi cao quý của các đôi bạn Kitô hữu được mời gọi để sống. Họ chỉ tìm thấy được ý nghĩa hôn nhân đích thực khi nào nó phản ảnh được tình yêu của Đức Kitô-Hôn Phu hiến ban mình cho Hội Thánh-Hiền Thê của Ngài. Phần Giáo Hội, nhận biết mình được Chúa Kitô yêu thương và cứu chuộc, trọn vẹn thuộc về Ngài, nên Giáo Hội đã hoàn toàn và luôn luôn “tùng phục Chúa Kitô... trong hết mọi sự” (Ep 5,24). Tình yêu ấy là hình ảnh và là mẫu mực cho tình yêu vợ chồng trong đời hôn nhân, khi cả hai người tùng phục lẫn nhau “Vì lòng kính sợ Đức Kitô” (Ep 5,21).
Nhờ bí tích Hôn Phối, đôi vợ chồng trở thành hình ảnh sống động của sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Chính vì thế mà hôn nhân Kitô giáo mang tính bất khả phân ly. Do đó, vợ chồng được mời gọi hiến thân cho nhau cho đến tận cùng. Đó là lý do tại sao "bí tích Hôn Phối phải cử hành trong Thánh Lễ" (Sacrosanctum Concilium, 78), giữa phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể. Vị trí này dành cho việc cử hành hôn lễ, qua nghi thức đó vợ chồng trao tặng cho nhau, tận hiến cho nhau. Một lần trao tặng cho nhau rồi, họ kết hợp với nhau ngay trong hy tế Thánh Thể của Chúa Kitô: họ kết hợp món quà cưới của họ cùng với món quà cưới của Chúa Kitô dành cho Hội Thánh.
Để được toàn vẹn, món quà cưới của họ đòi hỏi phải có sự ưng thuận bằng lời thề hứa, được khẳng định qua sự hiến thân và đó là lý do tại sao việc cử hành bí tích Hôn Nhân không kết thúc trong khi cử hành bí tích công khai, nó chỉ được hoàn tất trong phòng tân hôn, hành động hiến thân là một phần trong việc cử hành phụng vụ hôn nhân. Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh: "Là một bí tích, lễ cưới được thực hiện qua những lời thề hứa, là một dấu chỉ của bí tích qua nội dung của nó: ‘Tôi nhận bạn làm vợ tôi - làm chồng tôi’ […] Tuy nhiên, lời thề hứa trong bí tích này, chỉ là dấu hiệu cuộc hôn nhân đã được thực hiện. Và sự thành hình của cuộc hôn nhân không đi ngoài sự động phòng, đến nỗi, nếu có chứng cớ rằng: một cuộc hôn nhân đã được thiết lập về mặt giáo luật nhưng không có sự động phòng thì cuộc hôn nhân đó sẽ không thành tựu. Thật vậy, những lời thề hứa: ‘Tôi nhận bạn làm vợ tôi - làm chồng tôi’ […] chỉ có thể được hoàn tất qua sự kết hợp thân xác của vợ chồng" (Tiếp kiến chung ngày 05/01/1983).
Vì thế, sự ưng thuận tự hiến mình của Chúa Kitô cho Giáo Hội qua phép Thánh Thể, đòi hỏi phải được xác nhận bằng sự hiến thân cứu chuộc của Ngài trên Thập Giá. Sự hy sinh cứu độ của Ngài trên cây Thập Giá đạt đến đỉnh cao của sự dâng hiến, khi Chúa Giêsu nói lời cuối cùng, theo bản kinh thánh bằng tiếng La tinh của Thánh Giêrômi: “Consummatum est”, thường được dịch: “Thế là đã hoàn tất!” (Ga 19,30). Toàn bộ công trình cứu chuộc lúc bấy giờ được hoàn tất, là công trình hiến thân của Chúa Giêsu-Hôn Phu cho Hội Thánh-Hiền Thê của Ngài. Chính lúc Chúa Giêsu ban tặng cho Giáo Hội hơi thở cuối cùng của mình trên Thập Giá, lúc đó quà cưới trao tặng cho Hội Thánh-Hiền Thê của Ngài đã được hoàn toàn thực hiện vì Ngài đã hiến dâng trọn vẹn.
Chính vì vậy, hình ảnh của sự kết hôn cho phép chúng ta hiểu được sự cao cả của các bí tích đến từ công trình cứu độ. Công trình cứu độ được kết thúc và hoàn tất trong quà cưới của Chúa Kitô trao ban cho Giáo Hội. Từ đó, tất cả các bí tích của Giáo Hội biểu lộ tràn đầy công trình cứu chuộc, mang chiều kích hôn nhân và chứng minh thành quả của sự kết hợp nhiệm mầu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội. Đây là lý do mà đức Gioan Phaolô II, đặt nền móng cho một sự đổi mới hoàn toàn của thần học bí tích, và không ngần ngại nói rằng "tất cả các bí tích của Giao Ước Mới, trong một ý nghĩa nào đó tìm thấy được nguyên mẫu của nó trong bí tích hôn nhân như là bí tích nguyên thủy" (Tiếp kiến chung ngày 20/10/1982). Khi trao ban cho nhau trong hôn nhân, bằng cách khắc ghi sự kết hợp của họ vào trong các dấu chỉ cứu chuộc của cuộc hôn nhân nhiệm mầu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, hành động đó mang tính cách tiên tri: "Căn cứ vào phép tiên tri về thân xác, các thừa tác viên của bí tích Hôn Nhân hoàn tất một hành động có tính cách tiên tri. Qua cử chỉ này, họ xác nhận nhiệm vụ tham gia vào trong sứ mệnh loan báo mà Chúa Kitô đã trao phó cho Giáo Hội" Đức Gioan Phaolô II (Tiếp kiến chung ngày 19/01/1983).
2. Sự mật thiết vợ chồng và tính sâu kín Thánh Thể
Thánh Thể, được coi là bí tích biểu lộ tính hôn nhân nhiều nhất. Bằng bí tích này, Chúa Kitô-Hôn Phu hình thành món quà hiến tế để nuôi dưỡng Hội Thánh-Hiền Thê bằng chính Mình và Máu của Ngài. Rước Mình Thánh Chúa Kitô không chỉ là cơ hội cho một cuộc gặp gở "chân thành" với Chúa Giêsu, nó cũng là - theo ý nghĩa phù hợp nhất - diễn tả "sự kết hợp với Thân Thể Chúa Kitô" của mỗi người chúng ta, là một thành viên của Giáo Hội-Hiền Thê. "Bánh Thánh Thể làm cho những phần tử khác nhau của cộng đồng gia đình trở nên một thân thể duy nhất, một hình ảnh diễn tả và một sự tham dự vào Thân mình “bị phó nộp” và vào Máu “đã đổ ra” của Đức Kitô sẽ trở nên một nguồn mạch bất tận cho gia đình Kitô hữu đến múc lấy năng lực cho hoạt động thừa sai và tông đồ". (Familiaris Consortio, n° 57).
Tất cả các bí tích của Giao Ước Mới, bằng cách nào đó, đều được xây dựng từ "nguyên mẫu" của hôn nhân, Thánh Thể thực hiện đầy đủ chiều kích hôn nhân đó, đồng thời được biểu lộ trong mỗi bí tích của Giáo Hội, như sự tuôn đổ của công trình cứu chuộc và hôn nhân nhiệm mầu thực hiện bởi Chúa Kitô. Nếu Thánh Thể là "nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống Kitô hữu", (Lumen Gentium, n°11), hoàn thành sự viên mãn cuộc kết hợp hôn phối của Đức Kitô với Hội Thánh của Ngài. Các đôi vợ chồng chỉ có thể hoàn toàn hiệp nhất với nhau qua sự kết hợp với bí tích Thánh Thể và là nơi họ hiến trao cho nhau, cùng hiệp thông với tất cả các phần tử khác của Giáo Hội, với vị Hôn phu duy nhất. Đó là lý do tại sao bí tích Thánh Thể là một cơ hội để đôi vợ chồng được vĩnh viễn tái sinh đời sống hôn nhân của họ. Thánh Thể không chỉ là bí tích mà các đôi vợ chồng đến tìm lại sức mạnh để sống những đòi hỏi trong cuộc sống hôn nhân của họ. Bí tích Thánh Thể còn hoàn tất đầy đủ tất cả những gì họ được mời gọi để sống, giúp họ đạt tới sự thánh thiện trong việc tận hiến cho nhau.
Chúng ta hiểu được rằng khi đôi vợ chồng sống xa bí tích Thánh Thể, với lý do vì đời sống xác thịt của họ không có sự trong sạch đầy đủ để lãnh nhận Thánh Thể một cách xứng đáng. Chúng ta cũng hiểu được khi đức Gioan Phaolô II chỉ trích mãnh liệt Ma Ni giáo dưới mọi hình thức của nó, đôi khi mang tính chất đề cao về sự trinh tiết và đời sống độc thân đối với đời sống hôn nhân. Đức Gioan Phaolô II rất rõ ràng ở điểm này: "Những lời của Chúa Kitô […] không có một căn bản nào để có thể cho rằng đời sống hôn nhân thấp kém hơn, hoặc sự trinh tiết, hoặc đời sống độc thân là cao cả hơn, để từ đó chúng ta có thể viện lý do, đi tới không còn kết hợp thân xác trong đời sống vợ chồng […] Việc kết hôn và sự tiết dục không trái ngược với nhau, không tự phân chia cộng đồng nhân loại và Kitô giáo ra thành hai phe, khi nói: đó là hoàn hảo vì sự tiết dục và ít hoàn hảo hay không hoàn hảo vì thực tế của cuộc sống hôn nhân của họ" (Tiếp kiến chung ngày 14/04/1982).
Chắc chắn có những lỗi lầm mà vợ chồng có thể vấp phạm và thậm chí có thể dẫn họ tới việc không tham dự bí tích Thánh Thể khi họ chưa nhận được sự tha thứ của bí tích Hòa Giải. Không có gì trái ngược giữa đời sống xác thịt trong Hôn Nhân và Thánh Thể. Ngược lại, mối tương quan giữa hai bí tích Thánh Thể và Hôn Nhân có những thuận lợi nội tại, một sự tương ứng sâu sắc. "Nếu người ta muốn hiểu và sống sâu đậm các ân sủng và trách nhiệm của hôn nhân và gia đình Kitô hữu, thì tuyệt đối cần phải khám phá và đào sâu tương quan ấy". (Familiaris Consortio, n° 57). Ma Ni giáo là một chất độc thực sự, luôn tìm cách xâm nhập vào Giáo Hội và đối với Giáo Hội đã luôn cố gắng chiến đấu cho sự thật của Tin Mừng. Đức Gioan Phaolô II quyết định cuối cùng về vấn đề này: "khuynh hướng Ma Ni giáo chủ yếu đánh giá thân xác và tình dục của con người luôn luôn đi ngược lại với Tin Mừng" (Tiếp kiến chung ngày 22/10/1980).
Ngay cả trong tình trạng bị tổn thương do tội nguyên tổ, nhờ công trình cứu chuộc được thánh hóa qua bí tích Hôn Nhân, cùng được thanh tẩy bởi máu của Con Chiên, nên sự hiến thân có thể trãi qua ở nguyên vẹn ý nghĩa của nó. Đức Gioan Phaolô II: "Ngay cả trong trạng thái này, - tức là tình trạng tội lỗi của con người do tội nguyên tổ - hôn nhân vẫn không ngừng là hình ảnh của bí tích mà tác giả của thư gửi tín hữu Êphêsô đề cao ‘mầu nhiệm cao cả’" (Tiếp kiến chung ngày 13/10/1982). Đời sống Kitô hữu đích thực, là sống trong sự năng động của ân sủng, là một đời sống hiệp nhất. Sự hợp nhất của thân xác và linh hồn chúng ta cũng như là sự hợp nhất của đôi vợ chồng trong Thánh Thể, phải là những dấu hiệu rạng rỡ của đời sống Kitô giáo thực sự. Đây là kết quả của sự chiến đấu, sự thanh lọc, sự hy sinh, nỗ lực không ngừng uốn nắn lại trái tim của chúng ta, để xứng đáng đón nhận ân sủng, nhưng chủ yếu là nhờ vào công trình cứu chuộc của Chúa Kitô cho chúng ta.
3. Tiệc cưới Con Chiên
Phần Chúa Kitô, sự hy sinh cao cả của Ngài cho Giáo Hội là toàn hảo. Việc Ngài chết trên thập giá là lúc hoàn toàn dâng hiến chính Ngài. Sự đáp trả tình yêu của Giáo Hội cho tình yêu phu thê của Chúa Kitô phải được hoàn hảo hơn, để sự hiệp nhất của Chúa Giêsu và Giáo Hội một ngày nào đó sẽ hoàn toàn được thực hiện. Giáo Hội, nghĩa là mỗi người trong chúng ta phải sẵn sàng đón nhận, được xem như là Hiền Thê của Chúa Kitô-Hôn Phu, để đạt đến sự viên mãn của bản thân món quà. Để được như vậy, Giáo Hội phải được thánh hoá hết tội lỗi, vì nó làm cản trở sự dâng hiến hoàn toàn của mình. Vào ngày sau hết, Chúa Kitô trở lại trong vinh quang để đón nhận sự dâng hiến trọn vẹn của Giáo Hội cho Ngài, Hiền Thê sẽ hoàn toàn sẵn sàng để chào đón Hôn Phu của mình như trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan đã mạc khải: “vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên, và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng, nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19,7). Đó cũng là mỗi lần chúng ta được chuẩn bị cho bí tích Thánh Thể "mà Chúa Kitô trong tình yêu phu thê của Ngài, đã nuôi dưỡng Giáo Hội" Đức Gioan Phaolô II (Tiếp kiến chung ngày 01/09/1982).
“Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới của Con Chiên!” (Kh 19,9), lời mời dự tiệc do vị chủ tế nhân danh Chúa Kitô cử hành trong nghi thức hiệp lễ. Theo lời mời này, Giáo Hội-Hiền Thê, qua mỗi người chúng ta chỉ có thể đáp lại với sự khiêm nhường và niềm hy vọng: "Dominus, non sum dignus - lạy Chúa, con không xứng đáng với bữa tiệc cưới này. Hiền Thê Ngài không xứng đáng, trái tim con vẫn chưa sẵn sàng để đón nhận món quà cao quý của Ngài, nhưng hãy đến, lạy Chúa, chữa lành trái tim của con, đến dưỡng nuôi con, đến gợi lên trong con sự khát khao tận hiến cho Ngài". Lời khao khát thể hiện lòng mong muốn mình được biến đổi để có một ngày, được đón nhận Hôn Phu một cách trọn vẹn, Giáo Hội sẽ không ngừng và sẽ tiếp tục lặp đi lặp lại lời này, cho đến khi sẵn sàng đón nhận quà tặng của Hôn Phu cho mình, lúc Ngài trở lại trong vinh quang. Ngày đó Giáo Hội sẽ đến trước mặt Hôn Phu “xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền”. (Ep 5,27).
Vinh quang của Chúa Kitô khi Ngài trở lại vào ngày sau hết sẽ là vinh quang của Hôn Phu được Hiền thê chào đón. Chính lúc đó, Giáo Hội-Hiền thê, cuối cùng có thể nói với Hôn Phu những lời mà bất kỳ người vợ nào cũng thì thầm với chồng khi cô cảm thấy sẵn sàng để đón nhận món quà hiến thân của chàng: "Hãy đến! - Maranatha, hãy đến, Chúa Giêsu!" Sự hiến thân của Hôn Phu đối với Hôn Thê, cuối cùng sẽ được hoàn toàn đáp trả từ Hôn Thê cho Hôn Phu. Cuộc hôn nhân của họ sẽ được thực hiện đầy đủ, trọn vẹn trong một nghi lễ đời đời, hiệp thông vào bàn tiệc Thánh Thể vĩnh cửu, và sự khao khát hiệp thông được khắc ghi trong trái tim của người nam và người nữ ngay từ thuở ban đầu bởi Đấng Tạo Hóa sẽ hoàn toàn thoả mãn. Qua bữa tiệc cưới vĩnh cửu đó, công trình cứu chuộc nhân loại chúng ta cuối cùng sẽ được hoàn tất. Các đôi vợ chồng Kitô hữu nhờ ân sủng của bí tích hôn nhân, họ được mời gọi làm sứ giả loan báo từ ngày hôm nay và cho đến ngày sau hết.
Suy gẫm việc kết hôn nhiệm mầu giữa Ðức Ki-tô và Hội Thánh qua chương 5 của thư gửi Tín hữu Êphêsô, dẫn chúng ta vào trọng tâm của thực tại và cùng đích của hôn nhân, và đồng thời là một sự thật toàn thiện. Đức Gioan Phaolô II đã nói: "Bản văn này, cho chúng ta thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ của thân xác vì nó có thể được gọi là ‘huyền nhiệm’. Thực sự, hôn nhân là một ‘mầu nhiệm cao cả’ […] Mặc dù mầu nhiệm này đã hoàn tất trong hôn nhân của Chúa Kitô-Đấng Cứu Chuộc với Giáo Hội và Giáo Hội-Hiền thê với Chúa Kitô, và mầu nhiệm đó thật sự sẽ được thực hiện vĩnh viễn trong thời tận thế […] tác giả của bức thư gửi tín hữu Êphêsô không ngần ngại, tuy nhiên, để mở rộng sự so sánh hôn ước của Chúa Kitô và Giáo Hội trong tình yêu phu thê […] dấu chỉ bí tích của giao ước hôn nhân của người nam và người nữ" (Tiếp kiến chung ngày 04/07/1984).
Bản văn này thuộc kho tàng vĩ đại của Giáo Hội, kho tàng này tiếp tục đào sâu và không ngừng gia tăng sự ngưỡng mộ về tình yêu muôn thuở của Thiên Chúa yêu thương loài người. Mỗi ngày kho tàng giúp Giáo Hội hiểu thêm hơn về con người trong tất cả sự thật và hiểu được tầm quan trọng ơn gọi cao quý của mình, đồng thời là một mầu nhiệm mà "chỉ được soi sáng thực sự trong mầu nhiệm Nhập Thể" (Gaudium et Spes, n°22). Mầu nhiệm Nhập Thể, tức Mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ mình ra, “Thiên Chúa ở giữa chúng ta” (Mt 1,23), nên hôn nhân gia đình chính là cung thánh linh thiêng Thiên Chúa ngự trị và tỏ mình ra, qua những thăng trầm của cuộc sống vợ chồng, để cuộc sống hôn nhân gia đình của họ trở thành một Tin Mừng. Đức Gioan Phaolô II nói tiếp: "Chúng ta phải thừa nhận, bản văn tuyệt vời này đã hoàn toàn giải phóng suy nghĩ của chúng ta về các khuynh hướng Ma Ni giáo hoặc nhận xét không nhân vị của thân xác, và đồng thời làm cho ngôn ngữ của thân xác nằm trong dấu chỉ bí tích hôn nhân gần gũi hơn với sự thánh thiện thực sự".
Bản văn này cũng cho thấy sứ mệnh đặc biệt của các đôi vợ chồng trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô là Giáo Hội: suốt cuộc đời của các đôi vợ chồng trong Giáo Hội, mỗi cử chỉ của họ phải thể hiện một tình yêu chân thật như sự tận hiến chính mình, cho thấy toàn bộ ý nghĩa dấu chỉ bí tích của hôn nhân. Rằng cuộc hôn nhân nhiệm mầu của Chúa Kitô và Giáo Hội, tiệc cưới sẽ được hoàn thành vào ngày sau hết, lúc Chúa Kitô-Hôn Phu trở lại trong vinh quang để đón nhận món quà cưới của Hiền Thê Ngài. Và đó là lý do tại sao Đức Gioan Phaolô II đã kết luận: "Trong dấu chỉ này - thông qua ngôn ngữ của thân xác - người nam và người nữ sẽ tiến tới ‘mầu nhiệm cao cả’ để chuyển ánh sáng của mầu nhiệm này - ánh sáng của sự thật và nét đẹp thánh thiện, biểu lộ bằng ngôn ngữ phụng vụ - ngôn ngữ của thân xác, tức là trong ngôn ngữ truyền thống của tình yêu".
TÓM LƯỢC THẦN HỌC THÂN XÁC THEO ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II
của Lm Mai Đức Vinh
‘Thần học về thân xác của Đức Gioan Phaolô II có thể được coi như một khúc quặt, không chỉ đối với thần học Công Giáo mà còn đối với cả tư tưởng hiện đại’ (lm George Weigel).
Trong những trang dưới đây, chúng tôi mạo muội tóm lược về thần học thân xác (Compendium de la théologie du corps) múc ra từ những ý tưởng của đức Gioan Phaolô II.
Đức Gioan Phaolô II đã dành hơn năm năm đầu triều đại giáo hoàng của ngài (.9.1979-28.11.1984) để trình bày giáo huấn về ‘thần học thân xác’, đặc biệt vào những buổi triều yết chung ngày thứ tư. Ít nhất đã có 129 bài gồm lại thành gần 800 trang viết. Đọc những trang này, đức Hồng Y Angelo Scola, lúc còn là viện trưởng đại học Latran đã nhận định: ‘Đây là huấn giáo tuyệt tác của đức Gioan Phaolô II’ (magistère génial de Jean-Paul II) [33] và cha George Weilgel, tác giả cuốn tiểu sử đức Gioan Phaolô II đầy đủ và uy tín nhất, không ngần ngại gọi ‘đây là quả bom nổ chậm của thần học’ (bombe à retardement théologique). Cha còn nói thêm: "Thần học về thân xác của đức Gioan Phaolô II có thể được coi như một khúc quặt, không chỉ đối với thần học Công Giáo mà còn đối với cả tư tưởng hiện đại" [34]. Có điều mâu thuẫn, huấn giáo của đức Gioan Phaolô II không được phổ biến rộng rãi và sớm sủa vào đại chúng, mãi tới mấy năm gần đây người ta mới khám phá ra những chiều kích đáng giá về thần học của huấn giáo.
Ngay bây giờ chúng tôi cũng cảm thấy ‘nhột dạ’ khi dám tóm lược thần học thân xác của đức Gioan Phaolô II vào mấy trang sách [35] đang khi phải nhìn nhận tính cách phức tạp và khó nắm bắt tư tưởng của nền thần học này. Vì thế để dễ dàng nắm bắt, chúng tôi xin dựa trên những lời Thánh Kinh mà đức Gioan Phaolô II đã dùng, để trình bày bản tóm lược này. Quả vậy, đức Gioan Phaolô II đã dùng ba lời thánh kinh mà chính Chúa Giêsu đã công bố, để làm nền tảng xây dựng thần học thân xác [36]. Ba lời này (trityque) được nêu bật nhờ cách chú giải hoàn toàn mới mẻ của đức Gioan Phalô II, và ngài luôn quy hướng hôn phối về viễn tượng ‘cứu chuộc’ và được đồng hình với hôn phối huyền nhiệm của Đức Kitô và Giáo Hội (x. Ep 5,22-23).
Việc đức Gioan Phaolô II diễn tả ba lời chính yếu này thật giàu ý nghĩa. Ba lời này làm thành ba bức tranh mà đề tài của mỗi bức tranh bổ túc cho nhau và soi sáng lẫn nhau. Có thể nói đây là bộ ba bức tranh thánh kinh về thần học thân xác, cũng là ba đoạn Tin Mừng của Thánh Matthêu:
- Mt 19,3-8: Chúa Giêsu trả lời cho người biệt phái về việc rẫy bỏ vợ, và giúp họ nhận ra rằng: theo câu chuyện sáng tạo trong sách Sáng Thế thì chương trình của Thiên Chúa là nguồn gốc về sự kết hợp của người đàn ông và người đàn bà.
- Mt 5,27-28: Trong đoạn về Bài Giảng trên núi, có câu ‘hễ ai nhìn xem người phụ nữ và ước ao phạm tội với người ấy, thì đã mắc tội tà dâm trong lòng rồi. Như vậy chúng ta được mời gọi nhận định rằng: Do tội nguyên tổ mà trái tim của người đàn ông bị tổn thương bởi dục vọng.
- Mt 22,23-30: Câu trả lời của Chúa Giêsu cho người Saducê về sự sống lại của thân xác, rồi từ đó, phải đề cập đến cùng đích thế mạt của hôn phối và ý nghĩa đích thực của sự đồng trinh.
1. Chương trình của Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ về sự phối hợp của người nam và người nữ (Mt 19,3-8).
Lời thứ nhất của Tin Mừng: Có mấy người Biệt Phái đến gần Chúa Giêsu để thử Ngài. Họ nói : ‘Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do gì không?’. - Ngài đáp: ‘Các ông không đọc thấy điều này sao: Thuở ban đầu, Đấng tạo hóa đã dựng nên con người có nam có nữ và Người đã phán: ‘Vì thế người ta sẽ lìa bỏ cha mẹ, mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly’. - Họ thưa với Ngài: ‘Thế sao ông Maisen lại truyền cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?’ - Ngài bảo họ : ‘Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Maisen đã cho phép các ông rẫy vợ, chớ thuở ban đầu không có thế đâu’.
Hai lần, đức Gioan Phaolô II đã lưu ý: Đức Kitô nhắc đến những nguồn gốc. Nói cách khác, về vấn đề luật pháp người Biệt Phái đặt ra: Người ta có quyền không…? Trong trường hợp nào người ta có thể…? Đức Kitô không trả lời thẳng câu hỏi, nhưng Ngài dẫn họ về tận nguồn gốc. Vì người biệt phái không biết Thánh Kinh bao nhiêu, nên Chúa Giêsu muốn dẫn họ về tận nguồn gốc: nguồn gốc của hôn phối còn ghi lại trong các văn bản mạc khải và thánh thiêng của sách Sáng Thế, qua các trình thuật về việc sáng tạo và việc đoạn tuyệt do tội lỗi trong lịch sử loài người. Đức Gioan Phaolô II đã đi theo sự chỉ dẫn của chính Đức Kitô và nghiên cứu kỹ lưỡng bản văn sách Sáng Thế, Ngài soi chiếu bản văn bằng một ánh sáng hoàn toàn mới mẻ.
Nhờ bản Tin Mừng của thánh Matthêu, chúng ta trở lại sách Sáng Thế, và tìm ra nguồn gốc của câu này: ‘Họ không còn phải là hai nhưng chỉ là một’. Đức Gioan Phaolô II đã chú giải câu này cách sâu sắc: chính lúc khám phá ra sự hiệp thông trong hai thân xác mà người nam và người nữ trở nên hình ảnh của Thiên Chúa cách toàn vẹn, họ trở nên như một kiệt tác và sự hoàn tất của việc sáng tạo. Hành động xác thịt, trao ban thân xác, là những việc làm vô tội tự nguồn gốc, chúng diễn tả toàn thể sự hiến thân của người này cho người khác. Ngài gọi đó là ơn gọi hay sứ mệnh. Ơn gọi này vẫn tồn tại cho dù đối với chúng ta, việc thể hiện này còn khó hơn đến độ, nếu không có ơn sủng, chúng ta không thể hoàn tất. ‘Là một nhân vị’, có nghĩa là con người hiện hữu như một thực thể trao ban, khi thấy ‘mình toàn mãn’ trong sự hiệp thông [37]. Tự đầu trong chương trình của Thiên Chúa, người nam và người nữ có ơn gọi, nhờ sự hiệp thông với nhau trọn vẹn, trong đó có sự hiệp thông hai thân xác, trở nên hình ảnh sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa đã muốn đặt trong xác thịt hình ảnh của Ngài từ muôn thuở. Đó là sứ mệnh của thân xác nhân loại trong chương trình của Thiên Chúa ngay từ đầu cho chúng ta trở nên món quà trao ban của chính chúng ta. Được đóng ấn bởi hồng ân này, thân xác của loài người mạc khải Thiên Chúa cho trần gian: "Thân xác đã được dựng nên để chuyển thông vào thực tại hữu hình của thế giới mầu nhiệm dấu kín từ đời đời nơi Thiên Chúa và trở nên dấu chỉ hữu hình của mầu nhiệm ấy" [38].
Điều căn bản nhất mà người ta có thể giữ lại theo sự chú giải đoạn sách Sáng Thế của đức Gioan Phaolô II: Con người là hình ảnh của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, trước tiên nhờ sự hiệp thông giữa ‘con người - nhân vị’, hơn là nhờ sự kiện ‘con người - thụ tạo’ được phú bẩm thần linh tính (spiritualité). Thiên Chúa là một hữu thể thuần túy thiêng liêng. Chúng ta chỉ được phú bẩm một mức độ thần tính nào đó thôi. Các thiên thần được phú bẩm nhiều thần tính hơn con người. Các ngài là thần linh thuần thục. Vì thế, hình ảnh của Thiên Chúa nơi các thiên thần đậm nét hơn nơi chúng ta. Thế mà, sách Sáng Thế không nói đến các thiên thần là hình ảnh của Thiên Chúa, mà chỉ nói người nam và người nữ là hình ảnh của Thiên Chúa. Sự hiệp thông giữa người nam và người nữ được hoàn tất trong sự hiệp thông của thân xác. Từ đầu việc sáng tạo, dục tính (sexualité) được coi là một sự tốt lành căn bản. Chính nhờ vậy mà sự hiệp thông giữa người nam và người nữ ngay trong xác thịt, là hình tượng của sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa: Đức Gioan Phaolô II nói: "Con người đã trở nên tương giống và là hình ảnh của Thiên Chúa nhờ sự hiệp thông nhân vị mà người nam và người nữ tạo nên từ ban đầu (…). Lúc sống cô đơn, con người trở nên hình ảnh của Thiên Chúa, một cách đuối kém hơn lúc con người sống hiệp thông. Vậy, ngay từ đầu, xét theo yếu tính, con người là hình ảnh của một sự hiệp thông không thể dò thấu của Ba Ngôi Thiên Chúa" [39]. Đức Giáo Hoàng còn nói thêm: "Thậm chí, điều này có thể thiết lập nên một khía cạnh thần học sâu xa nhất mà người ta có thể nói về con người" [40].
2. Trái tim con người đã bị thương từ tội nguyên tổ (Mt 5,27-28)
Lời thứ hai của Tin Mừng: "Anh em đã nghe luật dạy rằng: ‘chớ ngoại tình’. Còn Thày, Thày bảo anh em biết: ‘ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn họ, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi (a déjà commis l’adultère avec elle dans son cœur)" (Mt 5,27-28). Đức Gioan Phaolô II trưng dẫn một lời dịch khác cổ thời hơn và ngài cho là đúng hơn: "Còn Ta, Ta nói cho anh em : ‘Ai nhìn một người phụ nữ và thèm muốn họ, thì đã làm cho họ ngoại tình trong lòng của họ rồi’ (l’a rendue adultère dans son cœur)" [41]. Chỉ hơn một năm mà ngài đã nhắc lại câu này quãng 40 lần trong các buổi triều yết (16.4.1980 -6.5.1981). Theo ngài, ‘Lặp lại như vậy vì ý nghĩa của những lời này là nồng cốt cho toàn bộ thần học về thân xác được chứa đựng trong giáo huấn của Chúa Kitô’ [42].
Như vậy, ngoại tình trong lòng là một hành động đã được định nghĩa rõ ràng cái nhìn thèm muốn, nghĩa là cái nhìn chăm chú trên một người khác để chiếm hữu họ, để xử dụng họ, để được thỏa mãn, để lợi dụng họ, để dụ bắt họ. Đức Gioan Phaolô II còn dùng một kiểu nói vừa rất chính xác vừa rất hoảng hồn: ‘Đó là cách cưỡng đoạn sự hiến thân của họ dành cho một hữu thể nhân loại khác (người nam dành cho người nữ hay ngược lại) và thu rút hồng ân ấy thành một đối vật thuần túy dành cho mình’ [43]. Như vậy Ngài muốn chứng tỏ rằng: Những lời của Chúa Kitô trong bài giảng trên núi tố cáo tất cả những thái độ có ý từ chối phẩm tính nhân vị nơi một người khác xét theo họ là chủ thể hiến dâng (sujet de son don).
Chính đó là hậu quả của tội lỗi nơi chúng ta, hay rõ hơn, là nguồn gốc của ba dục vọng thánh Gioan nói đến trong thơ của ngài, đặc biệt về dục vọng xác thịt [44]. Khác với điều chúng ta đọc được trong sách Sáng Thế ‘Bấy giờ cả hai người nam và người nữ đều trần truồng và họ không cảm thấy xấu hổ khi đứng trước mặt nhau’ (St 2,25). Lúc đó họ ở trong tình trạng vô tội, có cái nhìn trong sáng hoàn toàn. Họ nhận ra trong nam tính và nữ tính có những dấu chỉ về ơn gọi chung của họ là hiệp thông vào sự hiến thân của chính họ. Đức Gioan Phaolô II nói: "Nếu họ không cảm thấy xấu hổ, điều ấy có nghĩa là họ được kết hợp bởi sự ý thức về sự hiến thân, họ đã cùng nhau ý thức về ý nghĩa hôn phối của thân xác họ, ý nghĩa diễn tả sự tự do của việc hiến thân và bày tỏ tất cả sự giàu sang bên trong của con người xét theo là hữu thể hiến dâng" [45].
Trái lại, sau khi phạm tội thì theo sách Sáng Thế, hậu quả đầu tiên là: "Bấy giờ mắt hai ông bà mở ra, và họ thấy mình trần truồng, họ mới kết lá và làm khố che thân" (St 3,7). Như vậy, điều đầu tiên người ta nhận thấy chính là sự thối nát của tội nguyên tổ. Không phải là thái độ của Thiên Chúa, (chỉ sau khi phạm tội người nam và người nữ mới trốn tránh Thiên Chúa) [46], nhưng chính là thái độ mà hai người dành cho nhau, nhìn vào nhau. Cái nhìn của họ không còn trong suốt nữa, cũng không phải là cái nhìn chiêm ngưỡng về ơn gọi hiến thân, nhưng là cái nhìn đã đổi hướng và từ nay thấy người khác như là đối vật có tiềm năng hưởng thụ ích kỷ. Đó là cái nhìn thèm muốn, cái nhìn coi người khác như một đối vật (objet) chứ không phải như một chủ thể (sujet). Đi xa hơn đức Gioan Phaolô II còn khẳng định: "Cái nhìn đưa đến sự ngoại tình trong lòng, người nam cũng có thể phạm tội ngoại tình đó đối với chính người vợ của mình, vì lúc đó ông coi vợ ông như một đối tượng để thỏa mãn những đòi hỏi theo bản năng của ông mà thôi" [47].
Trong nhiều buổi triều yết, đức Gioan Phaolô II chú tâm đến những lời này trong bài giảng trên núi và ngài đã chứng minh cách tuyệt vời rằng: Chính trái tim con người mới bệnh hoạn vì hậu quả của tội chứ không phải thân xác bệnh hoạn. Thân xác vô tội. Chúng ta lạm dụng chính bản thân chúng ta khi chúng ta tố cáo thân xác chúng ta, trong khi chính trái tim mới cần phải khám nghiệm. Sự dơ bẩn dưới mọi dạng thức không phải là tội của thân xác nhưng là một tội chống lại thân xác. Đức Gioan Phaolô II khẳng định: "Đối với người có não trạng nhị nguyên thuyết (mentalité manichenne) thì thân xác và dục tính tạo nên cái người ta gọi là ‘phản giá trị’ (anti-valeur), trái lại đối với Kitô giáo thì giá trị của thân xác còn được trân trọng quá ít. Cách nhận thức và đánh giá trị về thân xác và dục tính của thuyết nhị nguyên thì chính yếu xa lạ với Tin Mừng. Nhiều người đã bắt được ý nghĩa đích thực của những lời này mà Chúa Giêsu đã công bố trong bài giảng trên núi" [48]. Ít lâu sau, trong một vài buổi triều yết, đức Gioan Phaolô II còn nhấn mạnh: Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu mời gọi con người trở về với tình trạng nguyên thủy vô tội, tức là tìm lại những ý nghĩa căn bản trường tồn, dưới nhiều dạng thức bền vững, của cái được gọi là ‘nhân tính’ sống động của con người mới. Như vậy, sẽ có sự nối kết giữa ‘nguyên thủy’ (origine) và ‘viễn tượng của ơn cứu độ’ [49].
3. Hôn nhân là như sự công bố và chuẩn bị ơn phục sinh (Mt 22,23-30).
Lời thứ ba của Tin Mừng: là câu Chúa Giêsu trả lời cho người Sađuxê. Một phái người Do Thái mang tên là Sađuxê không tin vào sự sống lại của thân xác, đã đến gặp Chúa Giêsu và đặt với Ngài một câu hỏi liên hệ đến ‘luật anh em thế nhau’ (loi du lévirat). Trong luật Do Thái, khi một người nam chết, thì một trong các anh em trai của họ phải kết hôn với người nữ góa bụa hầu bảo đảm dòng giống cho người anh em quá cố. Những người Saduxê đặt vấn nạn với Chúa Giêsu như sau: "Thưa Thày, ông Maisen có nói: nếu ai chết mà không có con, thì anh hay em của người ấy phải cưới lấy người vợ góa, để sinh con nối dõi cho anh hay em mình. Mà trong chúng tôi có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, rồi chết, và vì không có con nối dòng, nên để vợ lại cho em. Người thứ hai, rồi thứ ba, cho đến hết bảy người, người nào cũng vậy. Sau hết, người đàn bà ấy cũng chết. Vậy, trong ngày sống lại, bà ấy sẽ là vợ của ai trong số bảy người, vì tất cả đều đã lấy bà?" - Đức Giêsu trả lời họ: "Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng chẳng biết quyền năng của Thiên Chúa. Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ sống như các thiên thần trên trời" (Mt 22,23-30).
Chúa có ý nói rằng: một khi đã sống lại, không còn hôn nhân nữa, vì hai lý do: Lý do thứ nhất việc sống lại xảy ra lúc Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang, đánh dấu sự kết thúc của lịch sử. Lịch sử đã hoàn tất, không còn cần thiết việc sinh sản nữa, và vì thế không còn việc dựng vợ gả chồng nữa. Lý do thứ hai, chính chúng ta có một cái nhìn rất chật hẹp về sự sống lại, hay đúng hơn một cái nhìn của người theo tự nhiên thuyết (naturaliste): Chúng ta thường lẫn lộn sự sống lại với một hy vọng tự nhiên về sự bất tử (immortalité). Đó là một quan niệm sai lầm mà chúng ta phải gạt bỏ. Đức Gioan Phaolô II nói: "Phục sinh không chỉ có nghĩa là sự vãn hồi thân xác và tái lập sự sống của con người, hầu con người trở lại tình trạng nguyên vẹn nhờ sự kết hợp của linh hồn và thân xác, nhưng còn có nghĩa là sự vãn hồi một tình trạng tuyệt đối mới mẻ của chính sự sống con người" [50].
Căn cứ vào đâu để nói đến tình trạng tuyệt đối mới mẻ này? - Đức Gioan Phaolô II bảo: "Tình trạng này được khởi sắc nhờ ‘một hệ thống tuyệt hảo đầy sức mạnh trong những tương quan hỗ trợ giữa tinh thần và thể xác của con người" [51]. Nghĩa là trong sự sống lại, có sự đối lập mà người ta trải nghiệm trong đời sống hiện nay, cụ thể là những hậu quả của tội nguyên tổ. Đó là sự đối lập giữa những khát vọng của tinh thần chúng ta và những nặng nề của thân xác chúng ta, sự đối lập này sẽ bị đẩy lui hoàn toàn bởi sự hiệp nhất và sự hòa hợp tuyệt hảo của thân xác và tinh thần. Đức Giáo Hoàng nói tiếp: "Nhờ sự sống lại mà thân xác sẽ tìm lại sự hiệp nhất và hòa điệu toàn hảo với tinh thần. Con người sẽ không còn bị khống chế bởi sự đối lập giữa những yếu tố tinh thần và những yếu tố thân xác nơi con người nữa. Việc tinh thần hóa không chỉ có nghĩa là tinh thần sẽ thống trị thân xác, nhưng tinh thần thâm nhập hoàn toàn thân xác và những sức mạnh của tinh thần sẽ thấm nhiễm vào các nghị lực của thân xác" [52].
Sức mạnh của tinh thần sẽ thấm nhiễm và thống trị sức mạnh của thể xác chúng ta, rồi sẽ dẫn chúng ta vào trong một bậc sống cao trọng hơn bậc sống thực nghiệm tại thế. Nhờ ơn sủng, chúng ta sẽ đạt tới sự trọn lành tột độ của chương trình thần linh hóa. Đức Gioan Phaolô II viết: "Mức độ linh đạo hóa riêng của con người thời cánh chung nảy sinh và lớn lên theo mức độ thần linh hóa của con người. Mức độ thần linh hóa vô cùng trổi vượt sánh với mức độ người ta có thể đạt tới trong đời sống trần thế. Còn phải thêm rằng: ở đây không nói đến một mức độ khác biệt, nhưng theo một ý nghĩa nào đó, là nói về một loại thần linh hóa khác. Việc tham dự vào đời sống nội tâm của chính Thiên Chúa, việc yếu tố thực chất nhân bản được thấu triệt và thâm nhập bởi yếu tố thực chất là thần linh, sẽ đạt tới trọn đỉnh. Ngay đời sống tinh thần của con người cũng đạt tới độ cao mà trước đó tuyệt đối không thể nào vươn tới được (…). Sự thần linh hóa trong một thế giới khác mà những lời dạy của Chúa Giêsu ám chỉ đến, sẽ đem lại cho kinh nghiệm của con người một ‘âm giai’ kinh nghiệm về sự thật và về tình yêu vượt xa tất cả những cái mà con người có thể đạt được trong đời sống tại thế" [53].
Tuy nhiên sự sống lại sẽ không phải là ‘sự thoát xác’ (désincardination). Chúng ta sẽ không trở thành thuần tuý tinh thần, và điều đó là điều Chúa Giêsu muốn đề cao khi nói "Trong ngày sống lại, người ta như các thiên thần". Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh: "Dĩ nhiên ở đây không nói đến việc biến đổi bản tính nhân loại thành bản tính thiên thần, nghĩa là thành tinh thần thuần tuý. Văn mạch chỉ rõ rằng: trong thế giới khác, con người sẽ còn bảo toàn bản tính riêng của con người tâm lý nhục thể (psychosomatique). Nếu hiểu cách khác, thì việc nói về sự sống lại sẽ mất hết ý nghĩa" [54].
Thân xác chúng ta đã được phục sinh vẫn là thân xác con người. Chúng vẫn giữ nam tính hay nữ tính của chúng. Tuy nhiên, hôn phối sẽ ngừng hiện hữu trong thân phận sống lại. Tại sao? Bởi vì trong thân phận mới này của nhân loại, nghĩa là trong sự sống lại, sự hiệp thông của Thiên Chúa với con người sẽ tuyệt hảo đến nỗi sẽ làm thỏa mãn sự hiệp thông của chúng ta một cách toàn diện và chan chứa, dư đầy. Mục đích chúng ta được dựng nên, là để chúng ta trở nên những hữu thể hiệp thông. Lý tưởng chúng ta phải thực hiện trong hôn nhân tại thế là sống theo gương mẫu trọn hảo ‘việc Thiên Chúa hiến thân cho mỗi người’. Chúng ta sẽ không còn lấy vợ lấy chồng nữa, bởi vì việc hiến thân của chính chúng ta cho một người sẽ vô cùng thấp kém sánh với việc chúng ta được hưởng kiến hồng phúc nhan thánh Thiên Chúa. Đức Gioan Phaolô II cho biết: "Những người sẽ tham dự vào thế giới mới, nghĩa là vào sự hiệp thông tuyệt hảo với Thiên Chúa hằng sống, họ sẽ vui hưởng một chủ thể tính tuyệt hảo. Nếu trong chủ thể tính tuyệt hảo này không còn dựng vợ gả chồng nữa, và vẫn duy trì nam tính và nữ tính trong thân xác phục sinh của họ, nghĩa là thân xác vinh quang, thì điều đó được cắt nghĩa bởi sự kết thúc của lịch sử, nhưng cũng và đặc biệt bởi sự kiện của ngày cánh chung (…). Như vậy, sau ngày cánh chung người ta không còn dựng vợ gả chồng nữa, người ta sẽ bước vào đời sống miên trường, luôn hưởng kiến Thiên Chúa, diện đối diện. Lúc đó, sẽ nảy sinh một tình yêu thật sâu thẳm và thật mãnh liệt quy hướng về chính Thiên Chúa. Tình yêu ấy sẽ chiếm hữu hoàn toàn chủ thể tính tâm lý nhục thể (subjectivité psychosomatique)" [55].
Diễm phúc được hưởng kiến mầu nhiệm tình yêu Chúa Ba Ngôi giúp chúng ta đạt tới sự hiệp thông toàn hảo và phổ quát. Đức Gioan Phaolô II nói: "Quy hướng mọi hiểu biết và tình yêu thương vào Thiên Chúa, chính là tham dự trọn vẹn vào đời sống nội tâm của Thiên Chúa nghĩa là vào đời sống của chính Ba Ngôi cực thánh (…)" [56]
Nếu trong ngày sống lại không còn hôn phối nữa, không phải vì sự sống lại phủ nhận giá trị hôn phối, nhưng vì sự hiệp thông mà hôn phối loan báo đã được thực hiện toàn mãn. Hôn phối là như công trình hiệp thông, loan báo sự sống lại. Và sự sống lại loan báo sự hiệp thông toàn mãn của Thiên Chúa nơi chúng ta. Bởi đó, sự hiệp thông của chúng ta với mọi người theo khuôn mẫu tín điều ‘các thánh cùng thông công’, giúp chúng ta làm trong sáng bậc sống hôn nhân và nêu bật những ý nghĩa phong phú của hôn nhân.
Chúng ta có thể kết thúc chương sách này bằng lời của đức Hồng Y Barbarin, người đề tựa và giới thiệu cuốn sách ‘Linh đạo hôn phối theo đức Gioan Phaolô II’: "Tuy vắn gọn, những trang tóm lược (Compendium) về thần học thân xác theo đức Gioan Phaolô II thật hữu ích. Bản tóm lược hiến tặng chúng ta những nét trục chính, giúp chúng ta đào sâu những giáo huấn thần học của đức Gioan Phaolô II. Hy vọng nhiều đôi bạn sẽ múc lấy được những điều cần thiết để canh tân đời sống nội tâm của mình và thông truyền nguồn phong phú tiếp thu được đến các gia đình khác" [57].
Sau cùng là lời của chính đức Gioan Phaolô II, ngài nhấn mạnh: "Thần học thân xác này cần thiết để hiểu cho đúng lời dạy của quyền giáo huấn (magistère) của Giáo Hội đương thời" [58] [59].
-----------------------------
[33] x Carlo Caffara, ‘Identidad y diferencia. La relacionbombre y mujer’, Madrid, nxb. Encuentro, 1989 tr. 34.
[34] George Weigel, ‘Jean Paul II, témoin de l’Espérance’, JC Latès, tr.427.
[35] Có thể đọc tác phẩm đầy đủ và kỹ thuật về thần học thân xác của đức Gioan Phaolô II của ông Yves Semen ‘La sexualité selon Jean-Paul II’, Presses de la Renaissance, 2004.
[36] Triều yết chung ngày 11.11.1981, s.1
[37] x. Hiến Chế Mục Vụ ‘Gaudium et Spes’ s. 24.
[38] Triều yết chung ngày 20.02.1980, s.4
[39] Triều yết chung ngày 14. 11. 1979, s.31
[40] Triều yết chung ngày 14.11.1979, s.3
[41] Triều yết chung ngày 6.8.1980, s.5
[42] Triều yết chung ngày 22.10. 1980, s.1.
[43] Triều yết chung ngày 6.2.1980, s.3
[44] X. 1Ga 2,16
[45] Triều yết chung ngày 20.2.1980, s.1
[46] x. Ga 3,8
[47] Triều yết chung ngày 8.10.1980, s.3
[48] Triều yết chung ngày 22.10.1980 ss 3+5
[49] Triều yết chung ngày 3.12.1980, s.3
[50] Triều yết chung ngày 2.12.1981, s.3
[51] Triều yết chung ngày 9.12.1981, s.1
[52] Triều yết chung ngày 9.12.1981, s.1
[53] Nt, s.3+4.
[54] Buổi triều yết 2.12.1981, s.5
[55] Triều yết chung ngày 16.12.1981, s.2+3.
[56] Nt s.4
[57] Yves Semen, La spiritualité Conjugale selon Jean-Paul II, Paris, Presses de la Renaissance, 2010, tr.14
[58] Triều yết chung ngày 8.4.1981, s.5
[59] Bài viết trên đây dựa theo phần phụ lục ‘Annexe, Compendium (abrégé) de la théologie du corps’, của cuốn ‘La Spiritualité Conjugale selon Jean-Paul II’, … tr.217-236.